LONGFORMĐô đốc Giáp Văn Cương-Tư lệnh của biển

Đô đốc Giáp Văn Cương-Tư lệnh của biển

Giáp Văn Cương sinh năm 1921 tại xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Năm 1942, khi mới 21 tuổi, ông tha hương cầu thực vào Bình Định, làm công chức ngành hỏa xa. Năm 1945, ông bí mật gia nhập Việt Minh, khởi nghĩa cướp chính quyền ở địa phương. Từ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 19 Ba Tơ, ông phát triển lên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96, rồi tập kết ra Bắc. Từ năm 1964, ông quay lại chiến trường miền Trung.

Ông lần lượt giữ các chức vụ: sư đoàn trưởng sư đoàn 324, sư đoàn 3 rồi sư đoàn 2, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng mặt trận Quảng - Đà. Năm 1974, ông được bổ nhiệm làm Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3-1977, ông được điều về làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Tháng 2-1980, ông lại được điều động trở về Bộ Quốc phòng và đầu năm 1984, tướng Giáp Văn Cương được điều động trở về làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân lần thứ hai. Năm 1988, đồng chí Giáp Văn Cương được Nhà nước thăng cấp từ Phó đô đốc lên Ðô đốc Hải quân, cũng là đô đốc đầu tiên của Quân đội ta.

Nhắc đến Đô đốc Giáp Văn Cương, cán bộ, chiến sĩ Hải quân sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh vị Tư lệnh với bộ quân phục bạc màu, đầu đội mũ cối, quần xắn quá đầu gối, da sạm đen vì nắng gió, lội hết bãi cạn này đến bãi cạn khác ở quần đảo Trường Sa kiểm tra, chỉ đạo xây dựng nhà cao chân rồi đến lô cốt, nhà lâu bền… Trên những chuyến tàu dọc ngang trên biển, các sĩ quan, thủy thủ cùng thời đã truyền nhau về cảnh tượng hàng giờ trước hoàng hôn và đêm xuống, với điếu thuốc trên tay luôn đỏ lửa, Tư lệnh trầm tư trên boong, mắt hướng về xa xăm đau đáu khát vọng…

Đại tá Nguyễn Trương, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Hải quân-kiêm Bí thư cho Đô đốc Giáp Văn Cương xúc động khi nhớ lại những ngày tháng được giúp việc cho Tư lệnh: “Dường như Tư lệnh không có ngày nghỉ. Ông luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết theo dõi và nắm chắc tình hình biển đảo để có cơ sở vững chắc hoạch định chính xác phương hướng xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh toàn diện. Chính vì vậy, từ những ngày đầu làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương đã có những quyết sách đúng đắn, đề ra phương hướng xây dựng Hải quân toàn diện, đồng bộ, có nhiều thành phần lực lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo”.

Một số hình ảnh tư liệu về Đô đốc Giáp Văn Cương.

Ngay từ khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng tàu mặt nước phù hợp với nền kinh tế của đất nước và điều kiện biển, đảo của Việt Nam, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ thuyền. Xác định đất nước ta có bờ biển dài và có nhiều đảo xa bờ nên ông quan tâm đến lực lượng Hải quân đánh bộ, đặc công nước, pháo binh - tên lửa bờ biển. Các lực lượng này giữ vai trò quan trọng trong cấu thành lực lượng của hải quân hiện đại nói chung và Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng.

Với tầm nhìn chiến lược của mình, Đô đốc Giáp Văn Cương cho rằng: Hải quân Việt Nam không thể thiếu các binh chủng không quân hải quân và tàu ngầm. Đây là một suy nghĩ táo bạo nhưng sát thực tiễn. Nghĩ là làm, ông đề nghị cấp trên trang bị cho Hải quân tàu ngầm và máy bay trực thăng chống ngầm K25, K28, thủy phi cơ… Lực lượng Không quân Hải quân nhanh chóng được thành lập, do Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân được điều từ Quân chủng Phòng không-Không quân về để trực tiếp phụ trách và chỉ đạo. Tuy nhiên, sau một thời gian, do khó khăn về bảo đảm vật chất kỹ thuật nên Quân chủng Hải quân đề nghị chuyển lực lượng này cho Không quân quản lý. Các "khung” tàu ngầm được thành lập, đào tạo chu đáo, sẵn sàng đón nhận tàu ngầm…

Cùng với việc xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng vững mạnh toàn diện, ông luôn quan tâm đến chất lượng các căn cứ, các vùng hải quân, các lữ đoàn thuộc vùng và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật trên bờ để phục vụ các lực lượng của vùng, của Quân chủng thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất.

Hoạt động của Tư lệnh Giáp Văn Cương trong các chuyến công tác.

Nhiều cán bộ cao cấp của Hải quân làm việc cùng thời với Tư lệnh Giáp Văn Cương đều nói rằng: Những năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, ông đặc biết quan tâm đến hoạt động tác chiến. Ông coi tác chiến là "ưu tiên số 1" trong quá trình điều hành xử lý công việc. Để các lực lượng tác chiến thực nhiệm vụ có hiệu quả, xử lý nhanh nhạy các tình huống trên biển, ông chỉ đạo cơ quan, đơn vị chăm lo bổ sung, kiện toàn, mở rộng và nâng cấp lực lượng bảo đảm cho tác chiến như: thông tin, ra đa, quan sát biển, trinh sát, bảo đảm hàng hải, công binh chiến đấu...

Điều ông trăn trở nhất là xây dựng, huấn luyện, rèn luyện bộ đội như thế nào để tác chiến thắng lợi. Muốn vậy, phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, tranh thủ tối đa sự giúp đỡ, hợp tác của bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời không ngừng trau dồi nghệ thuật quân sự “lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh”, kết hợp cách đánh truyền thống và hiện đại. Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vũ khí trang bị của hải quân còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, do đó phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong Quân chủng, đồng thời phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển của Tổ quốc.

Tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, Nguyên Cục phó Cục tác chiến, Bộ Tổng tham mưu trong một chiều cuối hạ. Những năm tháng quân ngũ, người lính già làm việc “trên Bộ” nhưng lại được giao nhiệm vụ theo dõi hướng biển nên ông hiểu tường tận về biển đảo. Khoảng thời gian từ năm 1977 cho đến 1990, ông đã nhiều lần cùng với Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đi “thị sát” Trường Sa. Và mỗi chuyến đi ấy đã để lại trong ông những ấn tượng về vị “Tư lệnh của biển”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh kể: Tư lệnh Giáp Văn Cương là một nhà quân sự trí dũng song toàn. Mặc dù không được đào tạo Hải quân nhưng ông nắm Hải quân rất nhanh, vận dụng tài tình nghệ thuật đánh nghi binh trên chiến trường vào hoạt động trên biển cũng thật tuyệt vời. Trong 9 năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân thì không năm nào vắng ông ở đảo. Có năm ông ra Trường Sa tới 2 lần.

Ảnh phải: Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Hạm đội tàu chiến đấu thuộc Quân chủng Hải quân.
Ảnh trái: Tư lệnh Giáp Văn Cương đưa Đại tướng Lê Đức Anh (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) thăm đảo Trường Sa.

Khi ra đảo, bao giờ ông cũng quan sát xung quanh rồi hỏi cán bộ, chiến sĩ: “Cho các cậu nói, kẻ địch muốn chiếm đảo này thì sẽ đánh như thế nào?”. Khi bộ đội phát biểu ý kiến xong, Tư lệnh hỏi tiếp: “Nếu quân địch đổ bộ lên chiếm đảo, các cậu sẽ đánh như thế nào để giữ được đảo?” Và câu cuối ông mới hỏi: “Cuộc sống của các cậu thế nào? Có khó khăn quá không?”. Nghe vậy, cánh lính đảo “tếu táo” trả lời: Chúng con vất vả lắm bố ơi! Tư lệnh cười khà khà nói: Được! Từ từ rồi chúng ta sẽ cùng giải quyết... Trước khi rời đảo, ông thường viết ra toàn bộ ý kiến của mình về cách giữ đảo để cán bộ, chiến sĩ vận dụng. Cho đến nay, kinh nghiệm giữ đảo của ông vẫn còn nguyên giá trị.

Năm 1988, trước diễn biến phức tạp ở Trường Sa, Tư lệnh Giáp Văn Cương đã rất nhanh nhạy, ông quyết đối phó để chủ động giữ đảo. Vào đúng dịp Tết nguyên đán năm ấy, Tư lệnh Giáp Văn Cương tuyên bố: Không có Tết, tất cả cơ quan Bộ Tư lệnh Hải quân báo động, di chuyển vào Sở chỉ huy tiền phương Cam Ranh. Ông ra lệnh: Huy động toàn bộ lực lượng ra giữ đảo, tất cả tàu to, tàu nhỏ, tàu đánh cá ra đứng chân trên các đảo cùng một lúc trên nhiều điểm, nhiều đảo xa bờ. Phải dồn toàn bộ lực lượng để giữ đảo, chở đá, cát, xi măng khẩn trương xây đảo. Phải xây dựng các đảo thành những chiến hạm không thể bắn chìm”…

Sự kiện trên đảo Gạc Ma hết sức khẩn cấp. Tư lệnh Giáp Văn Cương đã lệnh cho Tàu HQ-505 ủi thẳng lên đảo Cô Lin và ta đã giữ được đảo. Để giữ bằng được quần đảo Trường Sa, Tư lệnh Giáp Văn Cương sử dụng lực lượng Hải quân hợp lí hiệp đồng với Không quân răn đe đối phương. Sự quyết đoán của ông trong từng mệnh lệnh, từng thời khắc đã tạo được niềm tin, sức mạnh để bộ đội giữ Trường Sa trọn vẹn như hôm nay.

Một lần đi thị sát trên quần đảo Trường Sa, Tư lệnh Giáp Văn Cương dừng chân tại đảo Tiên Nữ, điểm cực Đông của Tổ quốc. Ông hài lòng với công việc đang triển khai xây dựng nhà cao chân trên đảo nhưng vẫn đau đáu trăn trở về một vùng biển rộng lớn trên Thềm lục địa phía Nam. Trong lúc nghỉ ngơi, Tư lệnh mở tấm hải đồ ra xem rồi gọi các kỹ sư hàng hải, đo đạc và một số chỉ huy đơn vị lên hỏi: Các đồng chí xem có cách nào để ta đứng chân trên vùng Thềm lục địa phía Nam không? Nói rồi ông chụp cả bàn tay lên vùng biển ấy. Ông đang đăm chiêu suy nghĩ thì một kỹ sư đo đạc biển liền nói: Khu vực này có những bãi san hô chìm dưới mặt nước khoảng 15 đến 25m, có thể làm nhà cao chân như ở Trường Sa! Nghe vậy, ánh mắt ông sáng lên. Đúng. Phải đi khảo sát ngay. Nếu ví đất liền là nhà thì thềm lục địa là sân. Ai muốn vào nhà thì phải qua sân, qua thềm. Khu vực Thềm lục địa phía Nam là sân, là thềm của căn nhà Việt Nam. Chúng ta phải quyết tâm đóng giữ thật vững chắc nơi đây.

Đại tá Vũ Mạnh Hiền, nguyên quyền Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân nhận xét: Việc triển khai lực lượng ra đóng giữ trên Thềm lục địa phía Nam là ý tưởng sáng tạo và táo bạo của Đô đốc Giáp Văn Cương cùng nhiều lãnh đạo cấp cao, là đỉnh cao của “chiến lược phòng thủ biển”. Nhiều năm trước, Tư lệnh Giáp Văn Cương đã dự báo: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của Hải quân Việt Nam". Vì thế, việc xây dựng các Nhà giàn trên các bãi san hô ngầm là một tất yếu. Lý do thứ 2 Tư lệnh Giáp Văn Cương cho xây dựng Nhà giàn là xuất phát từ thực tiễn lịch sử. Đối phương đến xâm lược nước ta 14 lần thì có 10 lần chúng tấn công từ đường biển nên bảo vệ Tổ quốc từ hướng biển theo ông là “dĩ bất biến”.

Những hình ảnh hoạt động của đồng chí Giáp Văn Cương khi làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Đề xuất xây dựng Nhà giàn (gọi tắt là DK1) bảo vệ Thềm lục địa phía Nam của Tư lệnh Giáp Văn Cương ngay lập tức được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ủng hộ. Chính phủ trực tiếp giao nhiệm vụ thiết kế, thi công công trình DK 1 cho 3 đơn vị: Bộ Giao thông vận tải, Tổng công ty Dầu khí và Bộ Tư lệnh Công binh. Sau này, nhiệm vụ thiết kế, xây dựng DK1 giao hẳn cho Binh chủng Công binh chủ trì. Chỉ trong mùa biển lặng năm 1989, bốn công trình DK1 đầu tiền đã xuất hiện trên Thềm lục địa, hiên ngang giữa trùng khơi sóng. Lực lượng ra chốt giữ, canh gác là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn DK1, thuộc Lữ đoàn 171 Hải quân, nay thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân. Sau nhiều năm cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, những ngôi nhà giàn kiên cố vững chắc đã mọc lên án ngữ một vùng biển rộng lớn của nước ta.

Sẽ là thiếu sót khi nói về Đô đốc Giáp Văn Cương mà không nhắc tới việc ông nhận mệnh từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp chỉ huy lực lượng Hải quân tham gia giúp Campuchia giải phóng trên hướng biển.

Đó là vào năm 1979, mặc dù tình hình biển đảo của Việt Nam còn bề bộn những khó khăn nhưng đúng 9 giờ ngày 12-1, Tư lệnh Giáp Văn Cương đã nhận mệnh lệnh: Chuẩn bị lực lượng tiếp tục giải phóng thị xã Koh kong, đảo Koh kong, Poulouvai, Kaoh Tang, góp phần giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng pôn pốt. Ngay chiều ngày 14-1, theo lệnh ông, một phần sở chỉ huy Quân chủng Hải quân đã chuyển xuống tàu tiến thẳng đến cảng Kampong Som (Campuchia).


Sau gần 2 ngày vượt biển, toàn bộ đội hình chiến đấu của Hải quân đã đến vùng biển Koh kong. Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ huy các tàu hình thành thế bao vây từ Bắc xuống Nam bán đảo. Trời sáng rõ, các tàu của ta tiến vào bãi đổ bộ. Pháo binh địch bắt đầu bắn ra. Mặt biển Koh kong ầm ầm tiếng súng. Lực lượng không quân của ta dội bom xuống các khu vực phòng ngự của địch. Lúc này, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ huy tàu chiến, pháo kích vào bờ, quân ta đè bẹp sự chống cự của địch. Trưa ngày 16-1, lệnh đổ bộ được phát ra, các tàu đổ bộ vừa tiến, vừa bắn lên phía trước. Ông lệnh cho cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 101 xông lên tấn công vào các chốt của địch, thực hiện tốt nhiệm vụ mở cửa đánh chiếm đầu cầu.

Nhân lúc địch hoang mang, lo sợ, Tư lệnh Giáp Văn Cương quyết định sử dụng lực lượng mở cuộc tấn công mới, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng biên phòng của địch, chiếm thị xã Koh kong. Với sức mạnh như vũ bão của cánh quân trên hướng biển, chỉ 2 tiếng sau, ta chiếm được điểm cao 118, sau đó tiến mạnh vào thị xã, xung phong chiếm điểm cao 49 và các căn cứ công sở của địch, giải phóng hoàn toàn thị xã Koh kong.

Thừa thắng, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ huy lực lượng Hải quân mưu trí, dũng cảm tiếp tục chiến đấu giúp bạn giải phóng được các hòn đảo thuộc thuộc chủ quyền và giải phóng thành phố cảng Sihanoukville, tỉnh Kampong Som, sau này ta bàn giao đầy đủ lại cho nước bạn.

Năm 1990, ông bị bệnh nặng và đột ngột từ trần khi bao công việc dang dở còn đợi ông. Từ một người lính bộ binh đầy kinh nghiệm, ông đã trở thành một người chỉ huy Hải quân xuất sắc, là Đô đốc đầu tiên của Quân chủng Hải quân Việt Nam với tầm nhìn thao lược cùng nhiều quyết sách đúng đắn bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Đô đốc Giáp Văn Cương đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất; 2 Huân chương Quân công hạng Nhất và truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang vào ngày 7-5-2010.

Năm 2009, Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng đặt tên đường Giáp Văn Cương cho một đường phố tại quận Liên Chiểu. Sau đó các tỉnh Khánh Hòa, Bắc Giang và Kon Tum cũng đã đặt tên đường Giáp Văn Cương ở các thành phố trực thuộc.

  • Nội dung: TRỊNH VĂN DŨNG
  • Ảnh: TƯ LIỆU
  • Kỹ thuật, đồ họa: VĂN PHONG - TÔ NGỌC

top