
Rạng ngời chân lý “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”
“Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” là cội nguồn sức sống dân tộc, là mặt trời chân lý suốt trường kỳ lịch sử và rạng rỡ, ngời sáng cùng tương lai huy hoàng của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, được coi là một trong những cái nôi của loài người. Khảo cổ học đã phát hiện ở Rộc Tưng-Gò Đá trên đất An Khê (Gia Lai) di chỉ thuộc sơ kỳ đá cũ, xác nhận cách ngày nay 80 vạn năm, trên đất Việt Nam đã có con người sinh sống. Thế nhưng tuổi của lịch sử đất nước với tư cách là quốc gia-dân tộc thực sự chỉ được tính từ thời đại dựng nước đầu tiên. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các cộng đồng cư dân trên lãnh thổ Việt Nam vốn gần gũi với nhau về tập quán và lối sống đều có khuynh hướng quy tụ và tôn vinh Hùng Vương thành Thủy tổ dựng nước của mình.
Thời đại dựng nước đầu tiên đã định hình không chỉ phạm vi lãnh thổ tương tự như ngày nay, mà cả đặc trưng văn hóa và cao hơn cả là trách nhiệm bảo vệ quê hương xứ sở. Những thành tựu vĩ đại của thời đại dựng nước đã trở thành nguồn lực to lớn và quan trọng nhất cho toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, định hướng cho tương lai phát triển của quốc gia-dân tộc Việt Nam.
Các nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo tuy đã phát triển khá cao nhưng vẫn chưa tạo ra đủ độ phân hóa xã hội cho sự ra đời nhà nước. Giữa lúc đó, nhu cầu chống ngoại xâm và nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi đòi hỏi toàn thể cộng đồng cư dân phải cố kết lại thành một khối, đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình ra đời của những nhà nước đầu tiên. Như thế, những người dân thường đã có vai trò xứng đáng trong quá trình ra đời và vận hành của nhà nước sơ khai. Trong quá trình phát triển và biến đổi, nhu cầu đoàn kết chống ngoại xâm và trị thủy, làm thủy lợi càng đặt ra gay gắt và bức thiết, làm cơ sở cho quá trình thống nhất quốc gia-dân tộc và nền chính trị thân dân. Ở đây, các nhà nước tiến bộ đại diện cho dân tộc đã khéo xử lý mối quan hệ biện chứng giữa huy động cao độ sức đóng góp của toàn dân với bồi dưỡng sức dân, đem lại độc lập, tự do cho đất nước và cuộc sống yên bình cho người dân.
Đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mang toàn bộ di sản lịch sử và văn hóa của dân tộc đi khắp bốn biển năm châu tìm đường cứu nước. Năm 1919, Người đem đến Hội nghị quốc tế ở Versailles (Cộng hòa Pháp), đưa bản yêu sách 8 điểm đòi tự do, độc lập cho thuộc địa. Trả lời Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Người khẳng định: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”. Người đến với Chủ nghĩa Lênin và đã tìm thấy con đường cách mạng, mở ra tương lai phát triển cho quốc gia-dân tộc Việt Nam.
Năm 1941, trở về nước, Người viết tác phẩm “Lịch sử nước ta” tổng kết toàn bộ lịch sử đất nước trong một chữ “đồng” và lập ra tờ báo Việt Nam Độc lập, tha thiết kêu gọi: Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta! Truyền thống “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh thổi bùng lên thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của cả dân tộc, làm nên cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vĩ đại, khai mở một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trang trọng tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đây là tổng kết thiên tài những giá trị căn cốt của lịch sử-văn hóa dân tộc, được kết quyện, nâng tầm, bừng sáng cùng những tinh hoa và chuẩn mực của thời đại mới: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc. Nước Việt Nam đã trải qua 3 lần tuyên ngôn độc lập. Đây là tuyên ngôn độc lập kết tinh toàn bộ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, hòa quyện trong xu thế phát triển của văn minh nhân loại, khẳng định một cách tuyệt đối nước Việt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do, độc lập theo thang giá trị dân tộc và đúng với chuẩn mực quốc tế.
Ngày 9-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh luật số 50 ghi đầy đủ tiêu ngữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”, nêu cao một kỷ nguyên mới để đánh dấu vào lịch sử nước ta. Tại phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I ngày 9-11-1946, Bác Hồ giải thích tiêu ngữ này đồng thời là 3 chính sách lớn của Chính phủ: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng 3 chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”.
Độc lập dân tộc trong mọi hoàn cảnh phải là điều kiện tiên quyết, phải là tiêu chí hàng đầu. Tuy nhiên sẽ không thể có độc lập thật sự nếu nền độc lập ấy không song hành với dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người còn giải thích thêm: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Tất cả mọi suy nghĩ và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tập trung vào mục đích tối thượng là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
“Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” là nguyên tắc, bản chất, sứ mệnh thiêng liêng của nền dân chủ cộng hòa, vừa là công việc cụ thể trước mắt, vừa là mục tiêu lâu dài của cả một thời đại mới, khi mà người dân đã nắm quyền làm chủ đất nước. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Tiếc rằng chỉ 3 tuần sau ngày Việt Nam tuyên ngôn độc lập, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp quay lại nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Quân dân Sài Gòn-Chợ Lớn nói riêng và cả Nam Bộ nói chung lại phải đứng lên chiến đấu chống xâm lược. Ngày 19-12-1946, giữa lúc tiếng súng kháng chiến rền vang khắp các địa phương và Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Ngọn cờ độc lập dân tộc được giương cao, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố vững chắc làm bệ đỡ cho đất nước vượt qua muôn vàn thử thách hiểm nghèo, làm nên những kỳ tích anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thu toàn bộ non sông về một mối và đưa đất nước bước sang trang sử mới. Năm 1976, Quốc hội ra nghị quyết lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng tiêu ngữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” vẫn được giữ nguyên và chắc chắn còn được giữ mãi cho muôn đời sau.
- Nội dung: GS, TS, Nhà giáo Nhân dân NGUYỄN QUANG NGỌC, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
- Ảnh: Tư liệu, TTXVN, Tuấn Huy
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC