
Những sáng tạo độc đáo trong Tuyên ngôn Độc lập
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Là sản phẩm tinh thần của bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng”, lại ra đời trong thời khắc thiêng liêng của lịch sử, áng văn lập quốc của Hồ Chí Minh ngời sáng nhiều điểm sáng tạo độc đáo.
Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh ra đời trong thời điểm vô cùng trọng đại nhưng muôn phần phức tạp. Trọng đại vì Cách mạng Tháng Tám đã mang đến sự đổi đời cho dân tộc Việt Nam; phức tạp vì đất nước đang bị đe dọa bởi 3 thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh đó, Tuyên ngôn Độc lập phải pháp lý hóa những thành tựu đã đạt được và góp phần hóa giải những nguy cơ của cách mạng Việt Nam.
Do tính chất thời đại, bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có phạm vi tác động rất lớn. Xưa kia, ông cha ta viết tuyên ngôn độc lập chỉ hướng tới nhân dân và kẻ thù xâm lược từ phương Bắc, nhưng Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có đối tượng rất rộng: Toàn thể nhân dân Việt Nam và mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các nước lớn và các thế lực đang lăm le cướp đi nền độc lập vừa giành được của dân tộc Việt Nam. Trước những đối tượng khác nhau, Hồ Chí Minh đã tài tình truyền đi những thông điệp khác nhau.
Với nhân dân Việt Nam, tuyên ngôn là lời bố cáo về nền độc lập mới giành được và kêu gọi toàn thể nhân dân quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng. Với nhân dân thế giới, tuyên ngôn là lời kêu gọi công nhận quyền độc lập chính đáng của dân tộc Việt Nam. Với các lực lượng phản động đang nuôi dã tâm xâm lược Việt Nam, tuyên ngôn là lời cảnh báo về ý chí quật cường của một dân tộc “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Bằng sự đa dạng về đối tượng hướng tới, Tuyên ngôn Độc lập thực sự là văn kiện ngoại giao đa phương đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Sự đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập còn nằm ở tình cảm, tâm trạng của người sáng tạo nên nó. Con người từng bao lần “vung bút thành thơ đuổi giặc thù” nay “không giấu nổi sự sung sướng” khi được viết áng văn lập quốc giữa Thủ đô Hà Nội. Trong tâm trí của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bản yêu sách gửi cho Hội nghị Versailles mà Người đã viết năm 1919 và Chương trình Việt Minh, Người viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác của tiền bối... của bao nhiêu sách báo bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước. Bản Tuyên ngôn Độc lập là hoa, là quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam. Vì thế, đây chính là sự kết tinh của hồn thiêng sông núi thông qua tư duy của nhà lập quốc Hồ Chí Minh.
Quá trình soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh cũng hết sức đặc biệt: Suy ngẫm, “hoài thai” rất lâu mà viết rất nhanh. Từ tháng 5-1945, khi còn ở Tân Trào, Người đã yêu cầu Trung úy John, nhân viên báo vụ của Cơ quan Tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS), điện về Côn Minh (Trung Quốc) để đề nghị tổ chức này thả dù xuống Việt Bắc cuốn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Trên thực tế, Người chính thức soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập từ ngày 28-8-1945, sau khi Chính phủ lâm thời được thành lập và Người được bầu làm Chủ tịch. Dù thời gian soạn thảo chỉ vài ba ngày nhưng với tinh thần dân chủ và sự cẩn trọng hiếm có, Người đã tham khảo ý kiến của các thành viên Chính phủ lâm thời là những trí thức uy tín. Với một con người “chỉ có một ham muốn tột bậc” là Tổ quốc được độc lập, từng ý tứ, câu chữ trong Tuyên ngôn Độc lập đều đạt “độ chín” cả về tư tưởng lẫn thủ pháp nghệ thuật.
Ra đời giữa thế kỷ 20, bản Tuyên ngôn Độc lập của nhà nước cách mạng Việt Nam không thể lấy điểm tựa “thần quyền” là “thiên thư” như trong Nam quốc sơn hà, cũng không thể dựa vào “quân quyền”-lực lượng “thay trời hành hóa” như trong Bình Ngô đại cáo mà phải căn cứ vào nhân quyền, pháp quyền đã được chính các nước Đồng minh thừa nhận. Vì thế, Hồ Chí Minh mở đầu áng văn lập quốc bằng câu trích từ Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Một lần nữa, muốn dùng chính luật pháp phương Tây làm căn cứ pháp lý để đòi quyền bình đẳng cho dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Hồ Chí Minh nâng quyền con người-điều được thừa nhận trong xã hội phương Tây thành quyền dân tộc bằng sự “bắc cầu”: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Từ một chân lý đã được thừa nhận suy ra một chân lý tương tự là một sáng tạo lớn trong tư duy và cách lập luận của Hồ Chí Minh. Sự “suy rộng ra” của Hồ Chí Minh thật bất ngờ mà lại vô cùng hợp lý vì quyền con người và quyền dân tộc có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời. Bằng cách suy rộng ra, Hồ Chí Minh gián tiếp khẳng định việc đấu tranh để giành độc lập dân tộc khi bị thế lực thực dân tước đoạt là hành động tất yếu. Bằng luận điểm này, Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ tranh đấu trong thời đại chống đế quốc, thực dân. Qua bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam, những dân tộc đang bị cùm kẹp trong xiềng xích nô lệ có thể nhìn thấy con đường phải đi. Giá trị thời đại của bản tuyên ngôn chính là ở đó.
Sự “suy rộng ra” của Hồ Chí Minh còn thể hiện bản sắc văn hóa của một bậc hiền triết phương Đông. Nếu văn hóa phương Tây đề cao con người cá nhân thì văn hóa phương Đông đề cao con người cộng đồng, con người dân tộc. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã lấy dân tộc làm bản thể, thay vì lấy cá nhân làm bản thể. Quan điểm của Người đã thể hiện truyền thống văn hóa phương Đông: Con người cá nhân phải gắn kết với cộng đồng, quyền lợi cá nhân phải gắn kết và đặt dưới quyền lợi cộng đồng, dân tộc.
Trong lịch sử nước ta, các tác phẩm mang tầm vóc và ý nghĩa của bản tuyên ngôn độc lập như Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đều được viết bằng tiếng Hán. Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập bằng tiếng Việt và chính Người đã làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ có sức mạnh hùng biện, khoa học như các ngôn ngữ phổ biến khác trên thế giới. Mọi từ ngữ, hình ảnh trong tuyên ngôn đều thuần Việt, giản dị và dễ hiểu đối với đông đảo quần chúng.
Chỉ vẻn vẹn hơn một nghìn chữ, bản Tuyên ngôn Độc lập có sức mạnh của lẽ phải, phù hợp với lối tư duy duy lý của người phương Tây. Để khẳng định quyền sống trong độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đưa ra căn cứ pháp lý là những định đề mang tính chân lý trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp. Bằng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”, Hồ Chí Minh vừa đẩy đối phương vào thế khó phản bác, vừa tranh thủ được sự đồng tình rộng rãi của dư luận thế giới, vừa gián tiếp khẳng định: Cách mạng Việt Nam là sự kế tục dòng chảy của nhân loại, là sự tiếp nối cuộc đấu tranh vì mục tiêu giải phóng con người. Tự tin và kiêu hãnh, Người đã đặt cách mạng Việt Nam vào vị thế ngang hàng với những cuộc cách mạng vĩ đại từng làm đảo lộn thế giới và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quyền độc lập của dân tộc Việt Nam cũng như cho nhà nước cách mạng non trẻ vừa ra đời.
Tính hiện đại trong Tuyên ngôn Độc lập còn thể hiện ở hành văn. Hồ Chí Minh đã dùng lối phủ định của phủ định (trong câu: “Các nước Đồng minh... quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam") và kết cấu song song trùng điệp (trong câu: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”) là những hành văn rất quen thuộc trong văn phong phương Tây để tạo nên sức thuyết phục của áng văn chính luận.
- Nội dung: PGS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC