
80 năm quốc phòng - ngoại giao: Hai mặt trận, một mục tiêu - Bài 2: Phá thế bao vây, cấm vận, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ
Sau ngày đất nước thống nhất, khi công cuộc khôi phục và xây dựng chưa được bao lâu, Việt Nam lại đối diện nhiều thách thức nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, quốc phòng và ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ vừa kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vừa kiên trì giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, trao đổi với các nước liên quan nhằm kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Sau năm 1975, Việt Nam phải đối mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh, sự chống phá của các thế lực thù địch, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, bao vây cấm vận từ bên ngoài. Những khó khăn trong nước cùng với những bất lợi của tình hình chính trị quốc tế và khu vực đặt Việt Nam trước những thách thức lớn phải giải quyết.
Tháng 12-1986, Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện, tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong chính trị, kinh tế – xã hội, đồng thời định hình tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Tiếp đó, ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị (khóa VI) ban hành Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, xác định ngoại giao phải ưu tiên giữ vững hòa bình để phát triển. Nghị quyết này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy và nhận thức đối ngoại, làm rõ quan điểm về chiến tranh và hòa bình, an ninh và phát triển, lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế, các mối quan hệ trong đó có quốc phòng, an ninh và ngoại giao.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI và Nghị quyết số 13, trong giai đoạn này, sự kết hợp giữa quốc phòng và ngoại giao được triển khai thực hiện hiệu quả, bảo đảm quốc phòng bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và độc lập, chủ quyền; ngoại giao là mũi nhọn tiên phong mở đường phá thế bao vây, cấm vận và hội nhập quốc tế. Sự kết hợp này giúp Việt Nam đứng vững trong tình thế khó khăn; đồng thời, từng bước chuyển sang thời kỳ phát triển và hội nhập.
Quá trình đó, quốc phòng đã phát huy vai trò là chỗ dựa vững chắc cho mặt trận ngoại giao, đặc biệt trong giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới, lãnh thổ. Thắng lợi của nhân dân ta trong chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ vào những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 thế kỷ XX khẳng định ý chí bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh và tinh thần bất khuất kiên cường của dân tộc. Ngoại giao đã phát huy tiếng nói mạnh mẽ, khẳng định vị thế đất nước, giúp cộng đồng quốc tế hiểu đúng tính chính nghĩa của Việt Nam, kiên định lập trường và kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.
Theo Đại tá, Ths Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, nếu không có quốc phòng vững chắc, ngoại giao khó có thể đạt được những thành quả quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề chủ quyền lãnh thổ vốn có lịch sử phức tạp. Ngược lại, ngoại giao khéo léo đóng vai trò quyết định trong việc tháo gỡ dần thế đối đầu, mở ra môi trường hòa bình và ổn định để tập trung cho công cuộc đổi mới đất nước. Bằng chính sách đối ngoại mềm dẻo, kiên trì và sáng tạo, Việt Nam từng bước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ đối kháng sang hợp tác. Những mốc ngoại giao lớn như bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), Mỹ (1995) và gia nhập ASEAN (1995) đã mở đường cho hội nhập quốc tế. Những bước đi này giúp chấm dứt căng thẳng biên giới, phá thế bao vây, thu hút đầu tư, viện trợ và mở rộng hợp tác. Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng, tham gia APEC (1998), WTO (2007)…, tranh thủ nguồn vốn, khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển. Đặc biệt, khi quan hệ quốc tế được cải thiện, nguy cơ xung đột vũ trang giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện để quốc phòng chuyển dần từ trạng thái căng thẳng sang xây dựng chính quy, hiện đại, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Đó là những minh chứng rõ nét kết quả của sự gắn bó, bổ sung cho nhau của quốc phòng và ngoại giao. Quốc phòng vững mạnh tạo thế và lực cho ngoại giao trên bàn đàm phán, trong khi ngoại giao khéo léo giúp giảm căng thẳng, mở ra môi trường hòa bình cho phát triển. Sự kết hợp ấy vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, vừa nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, tạo nền tảng cho hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Trong những năm tháng bị bao vây, cấm vận và cả giai đoạn sau đó, nhờ phát huy sức mạnh quốc phòng, an ninh, Việt Nam đã giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong mọi tình huống, bảo vệ thành quả cách mạng. Chính sự vững vàng ấy trở thành điều kiện tiên quyết, cơ sở vững chắc để ngoại giao mở rộng quan hệ, tranh thủ hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền và nâng cao vị thế quốc gia. Một chế độ ổn định chứng tỏ sức mạnh đoàn kết, không bị chia rẽ, giúp đối ngoại tự tin, chủ động trong đàm phán. Đồng thời, Nhà nước có điều kiện tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác quốc tế, thay vì phải xử lý khủng hoảng nội bộ. Đây cũng là điều kiện quan trọng để triển khai đường lối “đa phương hóa, đa dạng hóa” trong quan hệ quốc tế, thúc đẩy hội nhập khu vực và toàn cầu.
Ổn định chính trị - xã hội gắn liền với khối đại đoàn kết dân tộc, tạo ra “thế” cho đất nước, trong khi tăng trưởng kinh tế là “lực” giúp ngoại giao có thêm sức mạnh hợp tác, thương lượng bình đẳng với các đối tác. Nếu trong nước bất ổn, các thế lực bên ngoài dễ lợi dụng để gây sức ép hoặc can thiệp. Do đó, giữ vững ổn định nội bộ đồng nghĩa với việc chủ động, độc lập trong hoạch định chính sách đối ngoại, bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời tạo dựng môi trường hòa bình, tin cậy để mở rộng hợp tác.
Theo Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Đức Hải – nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, ổn định trong nước có ý nghĩa đặc biệt đối với ngoại giao. Nó không chỉ giúp Việt Nam chủ động mở rộng quan hệ, khẳng định sức mạnh tự cường, mà còn tạo điều kiện triển khai công cuộc Đổi mới, phá thế bao vây, cấm vận và hội nhập sâu rộng. Trong bối cảnh khó khăn, quân đội giữ vững biên giới, bảo vệ lãnh thổ, duy trì ổn định, tạo tiền đề cho ngoại giao mở đường hội nhập; trong khi ngoại giao mềm dẻo góp phần hóa giải đối đầu, giữ hòa bình, tranh thủ nguồn lực quốc tế cho phát triển.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu – Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam – nhấn mạnh: Những kết quả ấy đạt được trong bối cảnh quốc tế đầy biến động do sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Xuất phát từ tư duy đổi mới về xu thế phát triển toàn cầu, yêu cầu cấp bách phải duy trì môi trường hòa bình để xây dựng kinh tế, cùng với nhận thức mới về đối tác – đối tượng, v.v… kết hợp với việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh gắn liền với việc củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính nhờ làm tốt những điều này, Việt Nam không rơi vào khủng hoảng, đổ vỡ. Đường lối đổi mới đúng đắn, với sự kết hợp hài hòa giữa quốc phòng, an ninh và ngoại giao, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia – dân tộc.
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng 80 năm qua cho thấy, quân sự, quốc phòng và ngoại giao luôn gắn bó mật thiết, song hành, tạo thế và lực cho đất nước.
Minh chứng vấn đề này, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Đức Hải, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, phân tích: Quân sự có thể giành được thắng lợi trên chiến trường, nhưng nếu không có bàn đàm phán thì thành quả khó được quốc tế công nhận. Kẻ thù có thể lợi dụng tình thế để kéo dài chiến tranh, gây tổn thất thêm cho ta. Quốc tế có thể hiểu sai, cho rằng ta chỉ “dùng bạo lực”, làm giảm sự ủng hộ. Ngược lại, ngoại giao không có chiến thắng quân sự sẽ không có “thế” và “lực” để đàm phán, dễ bị đối phương áp đặt điều kiện bất lợi, hiệp định ký kết có thể chỉ mang tính hình thức, không đảm bảo quyền lợi thực tế cho dân tộc. Nếu không có sức ép quân sự, ngoại giao khó đạt kết quả thực chất.
Đúc rút bài học lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn, Đại tá Vũ Văn Khanh phân tích, sự gắn bó này thể hiện: Thứ nhất, quân sự sử dụng sức mạnh vũ trang để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, tạo sức mạnh răn đe và thay đổi cục diện chiến trường. Ngoại giao sử dụng đàm phán, thuyết phục, liên minh, luật pháp quốc tế… để giải quyết xung đột, củng cố chính nghĩa, mở rộng đối tác và cô lập đối tượng. Cả hai mặt trận này cùng hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, hòa bình và phát triển.
Trong chiến tranh, quân sự là công cụ trực tiếp tiêu diệt sinh lực địch, làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, tạo sức ép buộc đối phương phải xuống thang, trong khi ngoại giao là công cụ chính trị, pháp lý để biến thắng lợi quân sự thành kết quả ràng buộc quốc tế, củng cố vị thế chính trị của ta, cô lập kẻ thù. Nếu chỉ có quân sự mà không có ngoại giao thì thắng lợi khó được quốc tế công nhận; nếu chỉ có ngoại giao mà không có quân sự thì không đủ sức buộc đối phương nhượng bộ.
Hai là, ngoại giao tạo “thế”, quân sự tạo “lực”. Ngoại giao giúp xây dựng môi trường chính trị, pháp lý, dư luận có lợi cho quốc gia, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của công luận quốc tế; sự giúp đỡ quốc tế về vật chất, tinh thần, từ đó bổ sung cho sức mạnh quân sự, trong khi khiến kẻ thù xâm lược gặp khó khăn về ngoại giao, bị dư luận tiến bộ thế giới phản đối. Trong khi quân sự là sức mạnh thực chất làm nền tảng, tạo điều kiện cho ngoại giao, buộc đối phương phải tính đến giải pháp hòa bình. Sức mạnh quốc phòng là chỗ dựa để ngoại giao tự tin thương lượng, nếu không có thực lực, ngoại giao khó giành thắng lợi; đồng thời, tạo điều kiện để giữ vững thành quả ngoại giao, sau đàm phán, quân sự tiếp tục bảo đảm thi hành hiệp định, ngăn ngừa đối phương lật lọng. Ngoại giao có thể coi là “bước đi trước”, tạo dựng thế chính trị, pháp lý, quốc tế thuận lợi, trong khi quân sự tạo “lực” để biến thế đó thành hiện thực, và để đối phương không thể chối bỏ.
Ba là, quân sự là chỗ dựa cho ngoại giao, ngoại giao dẫn đường cho quân sự. Đây là mối quan hệ bổ sung cho nhau giữa hai lĩnh vực trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Nếu chỉ có quân sự mà không có ngoại giao, sẽ dễ rơi vào thế bị cô lập, kéo dài chiến tranh; ngược lại, nếu chỉ có ngoại giao mà không có sức mạnh quân sự làm nền tảng, đối phương sẽ không chịu đàm phán hoặc nhượng bộ. Không có ngoại giao định hướng, quân sự có thể sa vào đánh quá mức cần thiết hoặc không đạt được kết quả chính trị cuối cùng. Ngoại giao dẫn đường cho quân sự thể hiện qua việc định hướng mục tiêu chiến tranh, xác định mục tiêu chính trị của cuộc đấu tranh, từ đó quân sự biết phải đánh đến đâu, đánh như thế nào; tranh thủ viện trợ, sự ủng hộ quốc tế, cô lập kẻ thù, từ đó giảm gánh nặng và tạo điều kiện cho quân sự giành thắng lợi; khôn khéo, linh hoạt với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tránh đối đầu với nhiều kẻ thù cùng lúc; chuyển hóa thắng lợi quân sự thành thành quả chính trị, ngoại giao là bước cuối để hợp pháp hóa kết quả quân sự, biến chiến thắng trên chiến trường thành văn kiện quốc tế, như Hiệp định Geneva 1954, Hiệp định Paris 1973.
Trong thời chiến, quân sự quyết định cục diện, ngoại giao kết thúc chiến tranh có lợi.
Trong thời bình, ngoại giao đi trước, ngăn ngừa xung đột, quân sự là “lực lượng răn đe” và “bảo đảm cuối cùng” cho an ninh quốc gia.
Quan hệ giữa ngoại giao và quân sự là mối quan hệ biện chứng. Trong thời chiến, quân sự quyết định cục diện, ngoại giao kết thúc chiến tranh có lợi. Trong thời bình, tuy ngoại giao đi trước, ngăn ngừa xung đột, nhưng quân sự vẫn là “lực lượng răn đe” và “bảo đảm cuối cùng” cho an ninh quốc gia. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho thấy, ngoại giao luôn đóng vai trò quan trọng cho hoạt động quân sự. Ngoại giao giúp ta giành được sự ủng hộ rộng rãi của phong trào cách mạng, tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thêm sức mạnh chính trị, tinh thần cho nhân dân và quân đội. Thông qua đấu tranh ngoại giao, ta vạch trần bản chất xâm lược của kẻ thù, làm cho chúng ngày càng bị cô lập trên trường quốc tế. Quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu… giúp ta nhận được viện trợ to lớn về vũ khí, trang bị, hậu cần, trực tiếp nâng cao sức mạnh chiến đấu. Nhờ đó, quân sự có thêm “thế” và “lực” để giành thắng lợi.
Đồng thời, sức mạnh quân sự, quốc phòng nâng cao vị thế ngoại giao. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, những thắng lợi quyết định (Điện Biên Phủ 1954, “Điện Biên Phủ trên không” 1972) đã buộc đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận các điều kiện cơ bản có lợi cho ta; đồng thời, góp phần khẳng định uy tín quốc tế của Việt Nam, một đất nước, đất không rộng, người không đông, nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, làm cho tiếng nói ngoại giao Việt Nam có trọng lượng, được quốc tế nể trọng. Sức mạnh quân sự, quốc phòng cũng giúp bảo đảm nền tảng cho ngoại giao thời bình. Sau 1975, một nền quốc phòng vững mạnh tiếp tục là chỗ dựa để Việt Nam mở rộng quan hệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Nhờ sức mạnh quân sự, quốc phòng, ngoại giao Việt Nam ngày càng củng cố vị thế vững chắc trên trường quốc tế, từ chỗ “phải đàm phán để tồn tại” tiến tới “chủ động tham gia kiến tạo trật tự khu vực và thế giới”.
Bài 3: Tăng cường thực lực, phát huy tiên phong đưa đất nước vươn mình phát triển
- Nội dung: NGUYỄN VĂN DUYÊN
- Ảnh: Tư liệu
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC - THANH HƯƠNG