LONGFORMCuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Dù thế giới khoa học - công nghệ đã có những bước tiến nhảy vọt, nhưng ước mơ về một loại nhiên liệu thay thế hoàn toàn dầu thô vẫn chưa thành hiện thực. Nguồn nhiên liệu hóa thạch này vẫn đang giữ vai trò là “dòng máu” vận hành thế giới...

Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), mỗi ngày, thị trường dầu thô toàn cầu tiêu thụ hơn 100 triệu thùng. Trong đó, khoảng 45-50 triệu thùng được xuất khẩu, phần còn lại được tiêu thụ nội địa tại các nước sản xuất. 3 khu vực thống trị xuất khẩu dầu thô toàn cầu gồm: Trung Đông, Nga và Trung Á, Bắc Mỹ.

Nhiều thập niên qua, xuất khẩu dầu thô không chỉ là vấn đề kinh tế, mà là trục xoay của địa chính trị hiện đại. Từ việc hình thành liên minh chiến lược, đến các cuộc xung đột vũ trang và các quyết định lãi suất của ngân hàng trung ương, giá dầu và dòng chảy xuất khẩu dầu thô ảnh hưởng đến gần như mọi góc cạnh của nền kinh tế thế giới.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Theo dữ liệu của World Atlas, tính đến năm 2024, quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới là Venezuela, với khoảng 303 tỷ thùng. Giai đoạn thập niên 2000, dầu thô từng đem lại sự thịnh vượng cho Venezuela nhờ giá dầu tăng cao. Với nhiều tỷ USD thu được từ dầu mỏ, quốc gia Mỹ Latin này đã tăng cường đầu tư vào các dịch vụ công như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và trợ cấp thực phẩm. Tuy nhiên, Venezuela sau đó phải chịu thâm hụt lớn khi giá dầu giảm trở lại, cùng với sự cấm vận của Mỹ, đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế.

Chiếm lĩnh vị trí thứ hai là Saudi Arabia với 267 tỷ thùng. Quốc gia Trung Đông này có vị trí đặc biệt quan trọng trên thị trường dầu thô thế giới. Đứng thứ 3 trong danh sách 10 quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới là Iran, với trữ lượng khoảng 208 tỷ thùng. Dầu là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất và là trụ cột của kinh tế Iran. Canada đứng ở vị trí thứ 4 với 163 tỷ thùng. Quốc gia Bắc Mỹ này là nơi có trữ lượng cát dầu (loại dầu thô chứa bitum, rất đặc và nặng, có độ nhớt cao) lớn nhất thế giới.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Iraq đứng thứ năm trong danh sách. Ước tính từ nhiều nguồn khác nhau cho biết, trữ lượng dầu của nước này hiện ở khoảng khoảng từ 112-300 tỷ thùng. Con số ước tính có sự chênh lệch lớn là bởi Iraq bị ảnh hưởng bởi xung đột và bất ổn kể từ đầu thập niên 2000, khiến các chuyên gia khó đánh giá chính xác trữ lượng dầu. Trong khi đó, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đứng ở vị trí thứ 6 với 113 tỷ thùng. Kuwait đứng thứ 7, với 101 tỷ thùng. Quốc gia nhỏ bé vùng Vịnh này sở hữu mỏ dầu Burgan Field- mỏ dầu lớn thứ hai thế giới, có trữ lượng lên tới 70 tỷ thùng.

Nga và Mỹ chia nhau vị trí thứ 8 và 9 với trữ lượng lần lượt là 80 tỷ thùng và 55 tỷ thùng. Vị trí cuối cùng trong danh sách thuộc về Libya với 48 tỷ thùng.

Chỉ tính riêng 4 quốc gia dẫn đầu trong danh sách này, gồm: Venezuela, Saudi Arabia, Iran và Canada đã sở hữu tổng cộng khoảng 942 tỷ thùng, chiếm hơn một nửa trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh của thế giới.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Năm 2025, tổng cộng thế giới sản xuất trung bình 106,3 triệu thùng dầu/ngày. Trong đó, dù chỉ đứng thứ 9 về trữ lượng dầu mỏ những Mỹ lại là quốc gia sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới. Trong hai thập kỷ vừa qua, sản lượng của Mỹ đã tăng gấp hơn hai lần, chủ yếu nhờ hoạt động khai thác dầu đá phiến phát triển mạnh. Mỹ hiện có sản lượng hơn 13 triệu thùng/ngày.

Nếu tính theo khu vực, năm 2025, Bắc Mỹ là khu vực sản xuất dầu lớn nhất thế giới, chiếm 29,9% tổng sản lượng toàn cầu, tương đương bình quân 31,8 triệu thùng/ngày. Trung Đông là khu vực sản xuất dầu lớn thứ hai thế giới, với sản lượng khoảng 31 triệu thùng/ngày.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Cùng có sản lượng tương đương nhau- khoảng 11 triệu thùng /ngày, Saudi Arabia và Nga được đồng xếp hạng 2. Saudi Arabia, với lợi thế về chi phí khai thác thấp, thường đóng vai trò "bộ đệm" trước các cú sốc thị trường. Trong khi đó, Nga không ngừng mở rộng hệ thống đường ống và khai thác các mỏ dầu ở Bắc Cực để đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước, đặc biệt từ thị trường châu Á.

Đứng sau 3 cường quốc dầu mỏ trên là Canada, với sản lượng khoảng 5,7 triệu thùng/ngày. Tiếp theo là Iran, khoảng 4 triệu thùng/ngày. Các vị trí tiếp theo lần lượt là Iraq, UAE, Trung Quốc và Brazil.

Đến hiện tại, bất chấp sự dịch chuyển trong cơ cấu đầu tư năng lượng, Trung Đông vẫn giữ vai trò trung tâm trên thị trường dầu toàn cầu. Trong năm 2025, sản lượng dầu thô của khu vực này vẫn cao hơn tổng sản lượng cộng lại của châu Phi, châu Âu, Trung và Nam Mỹ, và châu Á- Thái Bình Dương.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Xét về giá trị, dầu thô là hàng hóa được giao dịch nhiều nhất thế giới. Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế Trung Đông và châu Phi, xuất khẩu dầu thô là nguồn thu ngân sách sống còn. Tại Iraq, dầu mỏ chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tại Kuwait và Nigeria, con số này dao động 85-90%. Sự phụ thuộc vào dầu mỏ làm kinh tế 3 nước này cực kỳ dễ tổn thương trước biến động giá dầu toàn cầu.

Theo dữ liệu tổng hợp từ IEA, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Saudi Arabia nhiều thập kỷ liên tục giữ vững vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu dầu thô, với sản lượng khoảng 7,2-7,5 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 15% tổng lượng dầu thô giao dịch quốc tế. Dù không đứng ở vị trí số 1 về trữ lượng nhưng Saudi Arabia có một lợi thế đặc biệt quan trọng trong sản xuất dầu. Đó là chi phí khai thác thấp nhất thế giới, chỉ khoảng 5 USD/ thùng tại các mỏ lớn. Vừa sở hữu trữ lượng đứng thứ hai thế giới, vừa có chi phí khai thác thấp nhất thế giới, không có gì lạ khi Saudi Arabia vững “ngôi vương” về xuất khẩu dầu thô.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Đứng ở vị trí thứ hai là Nga với sản lượng xuất khẩu khoảng 4,5-5 triệu thùng dầu thô/ngày. Trước năm 2022, châu Âu là thị trường tiêu thụ dầu lớn nhất của Nga. Tuy nhiên, sau khi các lệnh trừng phạt quốc tế được áp đặt liên quan đến cuộc xung đột tại Ukraine, Nga đã nhanh chóng tái định hướng dòng chảy xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Giá dầu thô xuất khẩu được Nga chiết khấu khá sâu nên luôn hấp dẫn với những nước có thể nhập khẩu.

Với sản lượng xuất khẩu khoảng 3,4-3,6 triệu thùng dầu thô/ngày, Iraq đứng thứ 3 thế giới. Lợi thế của Iraq trên thị trường dầu thô thế giới cũng tương tự Saudi Arabia. Đó là chi phí khai thác thấp và trữ lượng lớn- 145 tỷ thùng, đứng thứ năm thế giới. Thị trường chính của Iraq là châu Á, đặc biệt Trung Quốc và Ấn Độ.

Canada, ngoài lợi thế về trữ lượng dầu thô lớn, còn là nhà xuất khẩu dầu thô lớn nhất Bắc Mỹ và đứng thứ 4 thế giới, với sản lượng khoảng 3,3-3,8 triệu thùng/ ngày. Nguồn dầu chính của Canada là dầu cát nên có chi phí khai thác cao (khoảng 20-30 USD/thùng). Khách hàng lớn nhất và ổn định nhất của Canada là Mỹ- chiếm hơn 60% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Mỹ. Đây là mối quan hệ kinh tế năng lượng chặt chẽ nhất giữa hai quốc gia bên cạnh nhau, được xây dựng trên hàng nghìn km đường ống xuyên biên giới.

Các vị trí tiếp theo trong danh sách này bao gồm: UAE (khoảng 3 triệu thùng dầu thô/ngày, Mỹ (3 triệu thùng dầu thô/ngày), Kuwait (2–2,2 triệu thùng dầu thô/ngày), Brazil (1,7-2 triệu thùng dầu thô/ngày), Na Uy (1,6-1,8 triệu thùng dầu thô/ngày), Nigeria (1,3-1,5 triệu thùng dầu thô/ngày).

Thị trường dầu thô phụ thuộc vào một hệ thống phức tạp của nhiều biến số tương tác đồng thời. Quyết định sản lượng của OPEC+ là yếu tố điều phối trực tiếp và ngắn hạn mạnh nhất. Xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông và Nga có thể tạo ra các cú sốc cung đột ngột. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ quyết định phần lớn nhu cầu toàn cầu. Còn trong dài hạn, tốc độ triển khai năng lượng tái tạo sẽ là biến số quan trọng nhất định hình đỉnh nhu cầu dầu.

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

Năm 2025, Mỹ tiêu thụ 19,12 triệu thùng dầu thô/ngày. Trong nhiều thập kỷ, Mỹ luôn là nền kinh tế tiêu thụ dầu thô hàng đầu thế giới. Vị trí này được dự báo sẽ còn tiếp tục vững vàng trong bối cảnh Trung Quốc đang mạnh mẽ chuyển đổi sang nguồn nhiên liệu tái tạo.

Đứng ngay sau Mỹ trong bảng xếp hạng là Trung Quốc với mức tiêu thụ 16,37 triệu thùng dầu thô/ngày. So với năm 2024, lượng tiêu thụ dầu thô của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã giảm khoảng 3%. Số liệu này phản ánh nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ của Trung Quốc khi phát triển mạnh xe điện và các nguồn năng lượng tái tạo.

Ấn Độ đứng thứ 3 trong danh sách các nước tiêu thụ dầu mỏ nhiều nhất thế giới, với 5,62 triệu thùng dầu thô/ngày trong năm 2025. Với quốc gia có dân số đông nhất thế giới, nền kinh tế đang phát triển nhanh, dự báo, nhu cầu dầu thô của Ấn Độ sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

Các vị trí tiếp theo trong năm 2025 gồm: Saudi Arabia (3,96 triệu thùng), Nga (3,85 triệu thùng) , Nhật Bản (3,24 triệu thùng), Hàn Quốc (2,89 triệu thùng), Brazil (2,58 triệu thùng), Canada (2,33 triệu thùng), Đức (2,05 triệu thùng).

Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại

  • Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 2: Bản đồ dầu thô của hiện tại
  • Nội dung: HUY ĐĂNG
  • Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC

top