
Văn hóa xã hội chủ nghĩa - Nhìn từ Nghị quyết số 80-NQ/TW - Bài 3: Phát triển công nghiệp văn hóa - “trao cần câu không trao xâu cá”
Hơn một thập kỷ qua, các ngành công nghiệp văn hóa đã tiến một bước dài từ chủ trương đi vào đời sống, chứng minh lợi ích nhiều mặt đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, đóng góp tới 9% GDP vào năm 2045 như Nghị quyết 80-NQ/TW yêu cầu; nhất thiết phải khơi thông các điểm nghẽn, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt Nam tiến ra thế giới.
Hàng loạt bộ phim cán mốc hàng trăm tỷ đồng, nhiều nhạc hội (concert) đông khán giả đến nỗi tắc đường hàng chục cây số… là những chỉ dấu cho thấy công nghiệp văn hóa Việt Nam bước đầu chuyên nghiệp, có thể cạnh tranh sòng phẳng trên “sân nhà”. Song, nếu thẳng thắn nhìn nhận, tiềm năng các ngành công nghiệp văn hóa chưa khai thác hết, Việt Nam chưa tạo ra “sức mạnh mềm” thông qua xuất khẩu văn hóa. Những hiện tượng như trò chơi điện tử Flappy Bird, hay sự nổi tiếng của “thần tượng Việt Nam” Chi Pu ở Trung Quốc chỉ là những đốm sáng cá biệt.
Lời giải để công nghiệp văn hóa Việt Nam “hóa rồng” phải bắt đầu từ bản chất của công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế dựa trên khai thác và sáng tạo các giá trị văn hóa. Muốn sản xuất ở quy mô công nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn, nghịch lý hiện nay là đa phần doanh nghiệp tham gia kinh doanh văn hóa thuộc loại hình nhỏ và vừa. Để có vốn làm phim điện ảnh, các hãng phim buộc phải sản xuất những chương trình giải trí “mì ăn liền” theo kiểu “lấy ngắn nuôi dài”. Một đặc điểm nổi bật của sản phẩm công nghiệp văn hóa là không thể dự báo chắc chắn lợi nhuận bởi không thể nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Có khá nhiều bộ phim ở nước ta dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, có nhiều yếu tố hứa hẹn ăn khách vẫn có thể trở thành “bom xịt”. Chỉ cần dự án phim lỗ, hãng phim có nguy cơ rơi vào cảnh trắng tay. Đã vậy, hãng phim không thể vay vốn ngân hàng bằng dự án phim, mà phải bằng tài sản bảo đảm. Bà Ngô Thị Bích Hạnh, Phó chủ tịch Công ty BHD - một trong những doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, đã hơn một lần kiến nghị: “Làm sao phải khơi thông nguồn vốn ngân hàng, vốn vay cho văn hóa. Rất mong Nhà nước có chính sách cho các doanh nghiệp văn hóa được vay với lãi suất như lãi suất như cho vay nông nghiệp”. Vòng luẩn quẩn này là câu chuyện buồn của tất cả doanh nghiệp kinh doanh văn hóa hiện nay.
Chờ đợi các doanh nghiệp nhỏ và vừa “trưởng thành” cần có thời gian, vô hình trung sẽ làm chậm đà phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Muốn thay đổi cần phải có sự vào cuộc của các doanh nghiệp lớn để trở thành “đầu tàu” phát triển công nghiệp văn hóa. Trên thực tế, các doanh nghiệp lớn chỉ đầu tư vào những lĩnh vực ít rủi ro, có khả năng sinh lợi nhuận cao như du lịch văn hóa, thay vì bỏ vốn làm điện ảnh hay nghệ thuật biểu diễn.
Muốn dẫn dòng vốn khổng lồ tư nhân vào các ngành công nghiệp văn hóa, đòi hỏi chính sách ưu đãi thích đáng, sát thực tế. Thí dụ, Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26-3-2021 của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư”, phạm vi được đặc biệt ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa chủ yếu nhằm bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống và thực hiện các dịch vụ công phi lợi nhuận. Đến đây, dư luận sẽ hiểu vì sao mấy năm gần đây nhiều tập đoàn tư nhân lớn lại chỉ “thích” đầu tư vào nhà hát, bảo tàng bởi họ sẽ nhận ưu đãi lớn.
Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa rất trông chờ vào những ưu đãi dưới hình thức khấu trừ thuế hoặc miễn giảm thuế với 4 loại thuế cơ bản (Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất - nhập khẩu). Ưu đãi hiện nay về thuế, phí trong các luật hiện hành được đánh giá là chưa tạo động lực cho kinh doanh công nghiệp văn hóa.
Quy luật cung cầu đòi hỏi phải chú ý xây dựng thị trường chứ không chỉ sáng tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Mục đích là để người tiêu dùng hưởng lợi, tăng sức mua, trực tiếp nuôi lớn doanh nghiệp. Chẳng hạn, trong suốt những năm 1990, Thụy Điển đã áp dụng mức thuế giá trị gia tăng (VAT) tiêu chuẩn là 25% đối với sách. Do thuế VAT cao, giá sách đắt hơn so với các sản phẩm văn hóa khác. Các nhà xuất bản bày tỏ quan điểm rằng, giá sách cao làm giảm doanh thu và lợi nhuận và do đó đã yêu cầu mức VAT thấp hơn. Giảm thuế VAT đối với sách ở Thụy Điển là nhằm mục đích giảm giá và tăng doanh số bán hàng, tăng lượng độc giả, chất lượng của sách và sự đa dạng của nội dung. Năm 2002, thuế VAT đối với sách đã giảm xuống 6% và giá sách cũng từ đó giảm. Năm sau khi quyết định giảm VAT được đưa ra, doanh số bán hàng tăng 16%. Đây có thể xem kinh nghiệm cần được tham khảo ở khía cạnh chính sách ưu đãi phải được ban hành đồng bộ, linh hoạt. Khi nền công nghiệp văn hóa Việt Nam mới ở giai đoạn đầu phát triển cần tăng cường hỗ trợ tối đa; sau khi đã phát triển bền vững, các chính sách ưu đãi cũng vì thế có thể giảm bớt.
Con đường đã qua của các quốc gia phát triển công nghiệp văn hóa thành công đều khẳng định vai trò rường cột của kinh tế tư nhân. Muốn “dòng vốn” khổng lồ của tư nhân đầu tư vào công nghiệp văn hóa, rõ ràng không chỉ ủng hộ, khuyến khích bằng lời nói.
Đã hơn một lần, nhà văn Chu Lai cảm ơn Quân đội đã đầu tư vật chất và nhân lực; nếu không, kịch bản phim “Mưa đỏ” mà ông dành bao tâm huyết để viết còn lâu mới được dựng thành phim, tạo nên kỷ lục phòng vé Việt Nam hơn 700 tỷ đồng. Lời cảm ơn của nhà văn nổi tiếng hoạt ngôn này là từ tận đáy lòng, bởi giả sử là hãng phim tư nhân muốn thực hiện dự án phim như “Mưa đỏ” sẽ vô cùng khó khăn về kinh phí, trang thiết bị, kinh nghiệm làm phim, cũng như hiểu biết về lịch sử…
Về bản chất, chủ thể Nhà nước không phải là chủ thể cung, hay nói nôm na là không lấy mục đích kinh doanh làm đầu khi sản xuất sản phẩm văn hóa. Nhà nước chỉ có nhiệm vụ đáp ứng các dịch vụ công về văn hóa như đáp ứng dịch vụ thư viện hoặc những lĩnh vực rất khó xã hội hóa, khó thương mại hóa như bảo tồn và phát huy nghệ thuật sân khấu truyền thống. Ngoài ra, với đặc thù nước ta chỉ có duy nhất một Đảng cầm quyền; để đảm bảo tính chính danh của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phản động, giữ vững trận địa tư tưởng; ngân sách phải chi để đặt hàng các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật nhằm tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, các đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối sẽ sản xuất các sản phẩm văn hóa có khả năng thương mại hóa. Theo ý kiến của các chuyên gia, sẽ rất phí phạm nếu các sản phẩm Nhà nước đặt hàng chỉ để “phục vụ nội bộ”. PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: “Cần phải có những sửa đổi về cơ chế, chính sách để đẩy mạnh hợp tác công-tư, tối ưu hóa những lợi thế của Nhà nước và tư nhân”.
Dẫn chứng về sự thành công của mô hình đầu tư công - quản trị tư nhìn từ Bảo tàng Louvre khi mà bảo tàng là tài sản của Chính phủ Pháp nhưng từ cách đây 30 năm giao cho tư nhân quản trị. Chính phủ đảm nhận các chi phí hoạt động (tiền lương, an ninh và bảo trì), trong khi phần còn lại - xây dựng các khu vực mới, cải tạo và mua sắm tài sản - sẽ được bảo tàng tự chi trả từ nguồn tiền các hoạt động thương mại. Năm 2008, Chính phủ Pháp cung cấp 180 triệu USD cho ngân sách hằng năm trị giá 350 triệu USD của Louvre; phần còn lại đến từ các đóng góp từ tư nhân và doanh thu từ vé vào cửa. PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: “Mô hình đầu tư công, quản trị tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa là một hướng đi đột phá, mang lại một loạt lợi ích quan trọng bằng cách kết hợp sự hỗ trợ từ nguồn tài chính công cộng và khả năng quản lý, linh hoạt của các tổ chức và cá nhân”.
Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, điểm khác biệt của Nhà nước ta đó là còn phải thực thi “làm mẫu” cụ thể hóa chính sách được tạo ra. Tiến sĩ Nguyễn Văn Đáng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: “Do đặc thù lịch sử và do những thói quen tư duy, quần chúng ở các nước Á Đông và đặc biệt ở trình độ đang phát triển như Việt Nam rất là coi trọng và đề cao vai trò dẫn dắt của Nhà nước. Thế nên, nếu Nhà nước chỉ hoạt động thuần túy là hoạch định và ban hành chính sách thì chưa chắc đã tạo ra được sự chuyển động mà Nhà nước tham gia vào thực hiện các hoạt động để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt”.
Minh chứng cho luận điểm này chính là sự thành công của Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2023 với 200.000 lượt khách chỉ trong một tuần tại Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Đây là hoạt động thực hiện chương trình cam kết khi gia nhập Mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO của TP Hà Nội, không nhằm mục đích kinh doanh. Thông qua Lễ hội, Hà Nội đã “làm mẫu” trong tổ chức bài bản, chuyên nghiệp sự kiện văn hóa, kiến tạo không gian sáng tạo. Có ý kiến đề xuất, nên biến Nhà máy xe lửa Gia Lâm trở thành công viên sáng tạo - công viên văn hóa tương tự Khu nghệ thuật 798 (Bắc Kinh, Trung Quốc), Bảo tàng Tate Modern (London, Anh) vốn được cải tạo từ các cơ sở công nghiệp cũ. Tuy nhiên đất đai thuộc ngành đường sắt quản lý, ngành văn hóa Hà Nội chỉ tổ chức sự kiện. Giả sử nếu có chuyển đổi được mục đích sử dụng khu đất 20 ha này thì Nhà nước cũng không thể đủ sức quản lý, tổ chức sự kiện, đảm bảo chi phí vận hành... Rõ ràng muốn đi đến tận cùng, phát huy tối đa vai trò của chủ thể Nhà nước trong phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh hợp tác công-tư là giải pháp tất yếu.
V
iệc Công ty Truyền hình số vệ tinh Việt Nam dừng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền dưới thương hiệu K+ từ ngày 1-1-2026 là do lỗ lũy kế hơn 3.800 tỷ đồng và khó khăn trong kinh doanh là kết cục buồn; trong đó có nguyên nhân là vi phạm bản quyền trong lĩnh vực truyền hình trả tiền hết sức phổ biến.
Theo số liệu thống kê của năm 2022, Việt Nam đứng thứ 9 trên thế giới về tỷ lệ vi phạm bản quyền, trong đó 80% vi phạm diễn ra trên các nền tảng số, khiến Việt Nam thiệt hại khoảng 350 triệu USD, tương đương khoảng 8.000 tỷ đồng. Tình trạng vi phạm bản quyền ở lĩnh vực văn hóa đang ở mức báo động. Hiện tượng vi phạm bản quyền tại thị trường văn hóa Việt Nam là nghiêm trọng và đang làm xấu đi hình ảnh về thực thi pháp luật bản quyền của Việt Nam trong mắt các đối tác quốc tế, trở thành lực cản cho phát triển thị trường văn hóa và làm giảm động lực khuyến khích sáng tạo, thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam.
Ai cũng biết việc truy vết đối tượng vi phạm bản quyền trên không gian mạng không phải dễ dàng, chỉ có thể là lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm công nghệ cao mới đủ phương tiện, trình độ thực hiện. Theo các luật sư, kể cả truy vết thành công, xác định danh tính cá nhân, tổ chức vi phạm, còn phải xác định hành vi vi phạm gây thiệt hại trên 100 triệu đồng và thu thập được bằng chứng vật lý để khởi tố theo điều 225 Bộ Luật Hình sự. Cho nên các cá nhân, tổ chức sáng tạo công nghiệp văn hóa rất khó tự mình điều tra rồi cung cấp cho các cơ quan chức năng. Hiện nay, khi bị vi phạm bản quyền, họ chỉ có thể thu thập chứng cứ rồi đề nghị các nhà mạng chặn truy cập vào sản phẩm vi phạm bản quyền. Quy trình này thường mất 2 tuần, đã thế các đối tượng vi phạm bản quyền luôn có phương án dự phòng. Cho nên có người ví von, chuyện phòng, chống vi phạm bản quyền ở nước ta giống như câu thành ngữ “bắt cóc bỏ đĩa”.
Rõ ràng không thể có chuyện xóa bỏ hoàn toàn vi phạm bản quyền, chỉ có thể là đẩy lùi tối đa, muốn vậy phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trước tiên là sự vào cuộc quyết liệt hơn của các cơ quan nòng cốt để tấn công tội phạm công nghệ cao. Cần có xử lý kiên quyết, làm “án điểm” những trường hợp vi phạm bản quyền công khai, vi phạm có tổ chức trong nhiều năm, gây thiệt hại lớn. Hình phạt cho vi phạm bản quyền cần sửa đổi theo hướng tăng nặng mới đủ sức răn đe. Khi các đối tượng vi phạm bản quyền phát sóng thể thao (nhất là bóng đá) có thể thu lời hàng trăm tỷ đồng mà chỉ bị xử lý kịch khung 1 tỷ đồng là không sát với thực tế. Trường hợp bị xử lý hình sự thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm là quá nhẹ.
Điều quan trọng là phải khiến các nhà cung cấp dịch vụ trung gian như Google, Facebook, TikTok… chủ động hơn trong việc xử lý sản phẩm vi phạm bản quyền sau khi được báo cáo có vi phạm. Điều đó đồng nghĩa, bên cạnh tổ chức, cá nhân bị vi phạm bản quyền, người sử dụng internet ở Việt Nam phải nâng cao vai trò của mình trong việc báo cáo các vi phạm bản quyền. Muốn vậy, công tác vận động, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người sử dụng internet cần được đẩy mạnh, kiên trì thực hiện. Đặc biệt chú trọng vào giới trẻ, ngay trong nhà trường để các em hiểu tôn trọng bản quyền tác giả là thể hiện con người văn minh, đạo đức, công dân tuân thủ pháp luật.
Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp xác định được người sử dụng cố tình sử dụng sản phẩm vi phạm bản quyền thì có thể xử phạt hành chính nặng, hạ điểm trong xếp hạng công dân số nếu việc xếp hạng và chấm điểm thành hiện thực.
Khi chúng ta quyết liệt chặn cung và cầu dòng sản phẩm vi phạm bản quyền, các ngành công nghiệp văn hóa mới có thể vươn lên, đóng góp vào GDP quốc gia, không để lợi nhuận chảy vào túi một số cá nhân, tổ chức vi phạm.
Hướng tới mục tiêu 100 năm lần thứ hai - kỷ niệm 100 năm thành lập nước (1945-2045), Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu Việt Nam nằm trong Top 30 thế giới về giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14-11-2025 nêu rõ mục tiêu tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa đạt 9%/năm.
Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn: “Đây là các chỉ tiêu vừa mang tính thách thức, vừa mang tính khích lệ. Tất nhiên, xuất khẩu văn hóa không thể đo ngay bằng những container hàng hóa; mà là xuất khẩu giá trị, xuất khẩu trí tuệ, xuất khẩu biểu tượng và lối sống. Vì vậy, điều quan trọng nhất không chỉ là đạt con số bao nhiêu, mà là hình ảnh Việt Nam được thế giới nhận diện ra sao: Một dân tộc giàu bản sắc, sáng tạo, nhân văn và hiện đại”.
Quy luật trong kinh tế thị trường, muốn bán hàng phải đáp ứng nhu cầu thị trường. Khi chúng ta bán hàng cho thế giới, cụ thể ở đây là sản phẩm văn hóa thì cần suy nghĩ cùng với thế giới, hay nôm na hơn là sản phẩm có tính toàn cầu hóa, không phải sản phẩm đặc thù của khu vực hay của quốc gia. Nghiên cứu các sản phẩm công nghiệp văn hóa xuất khẩu của Hàn Quốc, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, cho biết: “Người Hàn Quốc quan niệm, hiện đại hóa không phải là Âu-Mỹ hóa mà là toàn cầu hóa. Họ làm ra các sản phẩm văn hóa có tính chất toàn cầu, tính đương đại cao, chinh phục công chúng năm châu, mở đường cho kinh tế, đầu tư, xuất khẩu. Sau cùng, khi công chúng đã làm quen, say mê các giá trị Hàn Quốc, họ mới đưa yếu tố văn hóa truyền thống, lịch sử dân tộc lồng vào các sản phẩm văn hóa”.
Rất nhiều chuyên gia ngành xuất bản đã tham vấn cho Việt Nam, muốn bán được sách ra thế giới hãy bắt đầu từ sách thiếu nhi vì thiếu nhi ở đâu cũng như nhau, đặc biệt là sách tranh. Bà Jane Buckley, Giám đốc Nghệ thuật của Nhà xuất bản Simon & Schuster (Anh), cho biết: “Kinh nghiệm của chúng tôi là duy trì nhóm sách tranh với đội ngũ minh họa tài năng. Chúng tôi tìm kiếm đội ngũ họa sĩ minh họa nghệ thuật để tiếp cận nhiều hơn, sâu hơn, đa chiều hơn cuộc sống của trẻ em. Trước khi chúng tôi tạo ra một cuốn sách, chúng tôi đã nghĩ đến việc bán cuốn sách đó ở khắp mọi nơi”.
Kinh nghiệm của ngành xuất bản có thể áp dụng cho nhiều ngành khác. Thí dụ trong điện ảnh, với thói quen thời đại số, phim ngắn đang lên ngôi với vài phút/tập. Loại phim ngắn này tập trung vào diễn biến cốt truyện, đưa ra những tình huống kịch tính xảy ra với con người nói chung, không phụ thuộc vào yếu tố văn hóa-xã hội đặc thù gây khó hiểu. Cho nên đề tài thường được khai thác nhất là về tình yêu vì tình yêu ở đâu trên thế giới cũng chỉ từng đấy chuyện: Vượt qua chông gai để có cái kết có hậu, ghen tuông, hiểu lầm, không môn đăng hộ đối, luôn có nhân vật phản diện phá hoại…
Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa hình thức Nga hồi đầu thế kỷ XX đã cho rằng: Con người nói chung có xu hướng “tự động hóa” cảm thụ thông qua việc “chung thủy” với một số hình thức nhất định. Nếu muốn cách tân nghệ thuật thường phải sử dụng thủ pháp “lạ hóa” (defamiliarization) để thay đổi thói quen. Ngày nay, việc thay đổi thủ pháp có thể tạo ra những sản phẩm văn hóa mới mẻ, tạo thành xu hướng (trend) mới mang tính dẫn dắt; nhưng cũng có khi rơi vào rủi ro là mới lạ thì khó tiếp nhận, có thể bị lãng quên. Do vậy, đặc thù sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa phải tạo ra lạc thú giải trí, không phải để đánh đố công chúng. Khi không đòi hỏi là những sáng tạo độc sáng, có tính mở đường, người Việt Nam hoàn toàn có thể làm ra sản phẩm công nghiệp văn hóa chinh phục thế giới. Vấn đề là phải có lộ trình, làm ra những sản phẩm quen thuộc và quy trình không quá phức tạp.
Phát triển và ứng dụng công nghệ là tất yếu để sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa ở thời đại cách mạng 4.0. Song công nghệ chỉ là công cụ, con người vẫn phải làm chủ. Trong công nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực không chỉ đòi hỏi các nghệ sĩ hay nhà sáng tạo tài năng mà còn những con người đảm nhận công việc khác như: Quản lý, đàm phán, tiếp thị... Việt Nam không thiếu các cơ sở đào tạo về văn hóa, văn nghệ nhưng đào tạo nhân lực ngành công nghiệp văn hóa mới bắt đầu được quan tâm. Điều quan trọng không phải là số lượng mã ngành công nghiệp văn hóa - kinh tế sáng tạo được mở ở nhiều trường mà là thay đổi phương thức đào tạo theo hướng liên ngành và tăng cường vận hành thực tiễn. Đào tạo phải giúp người học hiểu rõ logic của yếu tố công nghiệp trong các lĩnh vực văn hóa, từ tổ chức, đầu tư, bản quyền, tư duy thị trường… Sinh viên học về công nghiệp văn hóa nhất thiết phải được trực tiếp tham gia vào các dự án, sự kiện và hoạt động cụ thể. Một nguồn nhân lực hiểu về bản chất vận hành của công nghiệp văn hóa, có khả năng sáng tạo, tạo ra của cải trên nền tảng tư duy toàn cầu chính là bệ đỡ để Việt Nam có thể trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực châu Á, khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghiệp văn hóa thế giới.

- Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN
- Ảnh: TTXVN, nhandan.vn, tinhhoalangnghe.vn, CTV
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC

























