
THÀNH TỰU NỔI BẬT CỦA ĐẤT NƯỚC SAU 80 NĂM XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: Nạn đói, kinh tế kiệt quệ, 95% dân số mù chữ, thù trong giặc ngoài đe dọa. Ngày 23-9-1945, Pháp nổ súng tái xâm lược, chính quyền cách mạng rơi vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân tiến hành Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, lập nên Quốc hội và Hiến pháp đầu tiên, xây dựng bộ máy nhà nước, lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng. Các phong trào chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” diễn ra rộng khắp, góp phần ổn định đời sống và nâng cao dân trí.
Đảng đồng thời lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ, nhân nhượng quân Tưởng và ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946 với thực dân Pháp để kéo dài thời gian chuẩn bị. Những thành quả ấy giúp giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc và đặt nền móng cho chế độ mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau này
Sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài. Các chiến dịch lớn như Việt Bắc, Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và đỉnh cao là Điện Biên Phủ (7-5-1954) đã buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Từ năm 1954, nhân dân ta tiếp tục kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn và đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại, nổi bật là chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (1972). Miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris (1973), tạo điều kiện thuận lợi cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, song cơ chế tập trung bao cấp giai đoạn 1975-1985 bộc lộ nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu phải đổi mới.
Đại hội VI (1986) của Đảng mở ra công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau gần 40 năm, đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn:
Kinh tế: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tăng trưởng khá cao, GDP tăng hơn 110 lần so với 1986, thu nhập bình quân đầu người năm 2025 dự kiến đạt 5.000 USD; hội nhập sâu rộng, môi trường đầu tư cải thiện, khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất.
Văn hóa - xã hội: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bản sắc dân tộc; giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiến bộ; HDI, tuổi thọ tăng; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, gắn với bảo vệ môi trường.
Quốc phòng - An ninh: Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh; lực lượng vũ trang được xây dựng chính quy, từng bước hiện đại; tham gia gìn giữ hòa bình LHQ, khẳng định trách nhiệm quốc tế.
Đối ngoại: Phá thế bao vây, mở rộng quan hệ với 194 quốc gia, tham gia sâu rộng vào các tổ chức quốc tế, giữ vững hòa bình, tranh thủ nguồn lực phát triển.
Hệ thống chính trị: Bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố.
Ngay từ khi ra đời (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI (1986) với đường lối đổi mới toàn diện đánh dấu bước ngoặt, mở ra thời kỳ phát triển mới. Từ Đại hội VII đến XIII, Đảng luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bổ sung, phát triển nhận thức lý luận. Mô hình CNXH ở Việt Nam được xác định là xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, với ba trụ cột: Kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN, nền dân chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhận thức ấy ngày càng hoàn thiện, trở thành kim chỉ nam để Đảng lãnh đạo toàn dân xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh: Quyền làm chủ thuộc về nhân dân, cán bộ là “công bộc của dân”, pháp luật bảo vệ quyền lợi nhân dân, từ Đại hội VII (1991), Đảng ta xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là đặc trưng cơ bản của chế độ, được các Đại hội sau tiếp tục khẳng định và phát triển. Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, quyền lực thống nhất nhưng có phân công, phối hợp và kiểm soát giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảng chủ trương xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, cải cách hành chính - tư pháp, nâng cao chất lượng cán bộ, kiên quyết chống tham nhũng và phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Sau gần 40 năm đổi mới, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Quyền con người, quyền công dân được bảo đảm tốt hơn, dân chủ mở rộng, hệ thống pháp luật ngày càng vững chắc. Đây là nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO QĐND ĐIỆN TỬ
- Ảnh: Tư liệu, Báo Quân đội nhân dân, CTV
- Kỹ thuật, đồ họa: THANH HƯƠNG - TÔ NGỌC