
Máu đỏ tim son khắc vào hồn Tổ quốc-Bài 3: Còn sống còn cống hiến cho Đảng
Sau khi tự do, Nguyễn Thị Châu được Thành đoàn Sài Gòn-Gia Định đưa vào căn cứ, trở thành hạt giống đỏ “Học sinh miền Nam trên đất Bắc”. Châu được đưa ra Bắc chữa bệnh và học tập cùng chị Phan Thị Quyên (vợ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi). Năm 1969, Châu vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Châu mãi khắc ghi hình ảnh Bác Hồ với nụ cười hiền hậu.
Sau đó, Châu đi báo cáo tình hình đấu tranh của miền Nam tại Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên. Sau Hiệp định Paris 1973, Châu xin trở lại miền Nam chiến đấu. Trung tuần tháng 4-1975, trong lúc hóa thân thành “vợ lính đi tìm chồng”, hòa vào làn sóng người di tản để âm thầm lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền Quận 10, Châu bị địch bắt khi vừa vào cơ sở. Ở bót cảnh sát Quận 10, Châu chịu nhiều trận đòn tra tấn. Bọn chúng cột Châu vào ghế rồi dội nước pha đặc quánh xà phòng, trộn lẫn ớt bột, đổ vào miệng vào mũi Châu. Khắp người Châu bầm tím, sưng vù vì những vòng dây điện thít chặt. Chúng dụ dỗ Châu hô “đả đảo Hồ Chủ tịch” rồi sẽ được “giải oan”. Ngẩng đầu, môi Châu rướm máu, quắc mắt hét vào mặt chúng: “Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Cả thế giới kính yêu Người. Không đời nào...”. Chưa kịp dứt câu, cả chiếc ghế bổ xuống đầu Châu, bọn ác ma thay nhau đấm, đá, thúc đầu gối vào mỏ ác, khiến Châu bất tỉnh.
Tỉnh dậy sau trận đòn man rợ, chúng lại ném lá cờ “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam” xuống trước mặt Châu, dụ xé lá cờ này sẽ được thả. Dù vừa trải qua trận đòn chết đi sống lại, Châu nhìn thẳng vào mặt thằng giám thị dõng dạc nói: “Đế quốc Mỹ và cả triệu lính ngụy không tiêu diệt nổi lá cờ này”.
Ngày 29-4-1975, bước chân thần tốc của quân Giải phóng bủa vây Sài Gòn, Châu cùng các bạn tù được bọn địch chở đi thả. Lúc đó không khí khởi nghĩa giành chính quyền đã cực kỳ sôi động ở các đường phố. Không khí cách mạng ở Quận 10 như ngọn đuốc chực bùng cháy ngọn lửa giải phóng. Chưa đầy một giờ sau khi được thả, Châu có mặt ở cơ sở Đảng bí mật trong Quận 10, cùng mọi người tập trung lực lượng, họp khẩn duyệt kế hoạch khởi nghĩa, chuẩn bị tiếp nhận mũi tiến công từ Biên Hòa. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Quận 10 được thành lập để chỉ đạo ngay sau khi chiếm được chính quyền. Lá cờ cách mạng cỡ lớn chực chờ sẵn sàng kéo lên. Nguyễn Thị Châu được chỉ định làm Chủ tịch quận 10.
Trong khi đó, ở Côn Đảo, Lê Hồng Tư bị giam giữ trong phòng 15, Trại IV. Những cuộc đấu tranh chính trị kéo dài của tù nhân nơi đây giúp Tư và đồng đội giữ vững niềm tin (sống sót) đến ngày giải phóng. Cuối tháng 4-1975, bọn cai ngục hoang mang cực độ. Tiếng máy bay liên tục gầm rú trên sân bay Cỏ Ống, chở tướng tá ngụy tháo chạy ra hạm đội 7. Từ trưa 30-4 đến đêm khuya, bọn địch ở đặc khu Côn Sơn tháo chạy trối chết.
Sáng 1-5, Trại IV vang lên tiếng búa nện vào ổ khóa, không chát chúa như những lần địch phá cửa. Lê Hồng Tư cùng anh em trong phòng òa khóc trong vòng tay bạn tù. 9 giờ sáng cùng ngày, Tư được lệnh lên công tác tại Ban Lãnh đạo khởi nghĩa đảo đóng trụ sở tại Trại VI. Ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa lập một bộ phận phụ trách công tác tuyên huấn của đảo. Bộ phận này gồm Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư và một đồng chí nữa. Ngày như đêm, Ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa tất bận với hàng trăm công việc phải làm khi giành được chính quyền.
Chiều 3-5, đài vô tuyến điện Côn Đảo liên lạc được với Thành ủy Sài Gòn-Gia Định. Khi được hỏi Côn Đảo cần gì để đất liền chi viện ngay. Các đồng chí dõng dạc: “Chúng tôi chỉ cần ảnh Bác Hồ và cờ đỏ sao vàng”.
Ngày 4-5, trời vừa rạng sáng, bốn máy bay mang cờ đỏ sao vàng lượn vòng trên bầu trời Côn Đảo. Đời tù đày, nô lệ chấm dứt. Tự do thực sự đã đến. Đúng 7 giờ sáng, toàn đảo cử hành trọng thể Lễ chào cờ cách mạng. Gần 5.000 người áo quần lam lũ, nhưng nét mặt rạng ngời khí thế chiến thắng, cất tiếng hát vang ca khúc “Giải phóng miền Nam”: “Đây Cửu Long hùng tráng! Đây Trường Sơn hiên ngang, thúc giục lòng ta...”. Tư hát mà không ngăn nổi những giọt nước mắt, tự hào hát vang bài hát mà Tư từng cất lên 13 năm trước khi bị kết án tử.
Chiều cùng ngày, trong hàng ngũ những người cộng sản kiên trung, Tư cùng đồng đội lặng lẽ cúi đầu trước mộ cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, nữ anh hùng Võ Thị Sáu, đồng đội Phạm Ngô và anh Hai. Tư khẽ khấn: “Xin cảm ơn anh và các đồng chí đã ngã xuống. Chính sự hy sinh của các anh, của bao lớp người đi trước đã tiếp thêm sức mạnh, truyền ngọn lửa thiêng cho cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo”.
Hòa bình lập lại, cặp đôi Tư-Châu vẫn đồng hành trên con đường cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Cô Châu công tác tại Hội Liên hiệp Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em rồi nghỉ hưu. Tuy đã về hưu nhưng cô vẫn tiếp tục cống hiến khi giữ chức vụ Chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em Thành phố. Với bà, tình yêu dành cho con trẻ, đặc biệt với những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, chính là cách tiếp nối thiên chức người mẹ, đồng thời là sự tri ân với đồng đội đã ngã xuống cho những thế hệ sau được sống trong yên bình.
Còn chú Lê Hồng Tư, sau ngày hòa bình, công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao TP Hồ Chí Minh, rồi giữ chức Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Thành phố. Về hưu nhưng chú vẫn đang đảm nhận nhiệm vụ Phó ban liên lạc cựu tù chính trị và tù binh TP Hồ Chí Minh, tích cực tham gia công tác địa phương, các chương trình tri ân đồng đội, ủng hộ gia đình chính sách, vận động lớp trẻ sống có lý tưởng, có trách nhiệm.
Cô Bùi Thị Son, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ TP Hồ Chí Minh tâm sự cùng chúng tôi: “Chị Châu sống giản dị, khiêm nhường. Dù ở cương vị nào, chị cũng đi tận cơ sở, hỏi chuyện từng người dân, thấu hiểu khó khăn của họ. Có lẽ, chính những năm tháng trong lao tù đã dạy chị biết quý trọng từng mảnh đời, từng nụ cười của người khác”.
Về phần mình, cô Phan Thị Bé Tư, cựu tù chính trị Côn Đảo, bộc bạch: “Chúng tôi ai cũng có tuổi trẻ, cũng có những rung động lứa đôi nhưng trên hết là Tổ quốc. Biết chuyện anh Tư và chị Châu yêu nhau trong chốn ngục tù, chúng tôi không chỉ ngưỡng mộ mà còn thấy mình có thêm sức mạnh, niềm tin để sống, để chiến đấu”.
Anh Lê Nguyễn Hồng Quang, Uỷ viên thường vụ, Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ Phường Minh Phụng (TP Hồ Chí Minh), con trai cô chú Tư-Châu, chia sẻ cùng chúng tôi: “Ba tôi từng bị nhồi máu cơ tim, vậy mà vừa khỏe lại đã đi làm công tác xã hội. Ba luôn tâm niệm: Người Đảng viên là người sống vì cái chung, không được dừng lại chừng nào còn sức. Ba dạy tôi lòng trung nghĩa không chỉ thể hiện trong chiến tranh, mà phải được giữ suốt đời”.
... Tháng 10-2025, trời đổ mưa trên thành phố mang tên Bác, trong căn nhà nhỏ chú Tư vẫn chăm sóc cô Châu từng bữa ăn, giấc ngủ. Di chứng chiến tranh khiến cô Châu mấy năm nay yếu nhiều, lúc tỉnh lúc mê. Chào cô chú ra về… và cho đến tận bây giờ (cũng như sau này), tôi mãi nhớ những giọt nước mắt đọng trên gò má chú Tư. Nhớ mãi ước mơ của chú Tư chỉ mong sống thêm vài năm, để được chăm sóc vợ đến cuối đời.

- Nội dung: THÁI PHƯƠNG - BẢO NGÂN
- Ảnh: NGUYỄN Á - TRẦN ĐINH - HỒNG QUANG
- Kỹ thuật, đồ họa: HÀ THANH









