LONGFORMDưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Ngày 2-9-1945, bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhưng chỉ ít tháng sau, Tổ quốc bị lâm nguy: Thù trong giặc ngoài, nội phản nổi lên, thực dân Pháp trở lại xâm lược, cả dân tộc phải bước vào một cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ chưa từng có trong lịch sử.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Ngày 23-9-1945, “Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Chúng lăm le đem quân vào Bắc Bộ. Tổ quốc lâm nguy”[1]. Âm mưu của kẻ thù rõ ràng: Xóa bỏ thành quả Cách mạng Tháng Tám, biến Việt Nam trở lại kiếp nô lệ. Theo đó, chính quyền cách mạng vừa ra đời đã phải đối diện với muôn vàn khó khăn: Ngân khố trống rỗng, nạn đói hoành hành, hơn 90% dân số mù chữ, “thù trong, giặc ngoài” rình rập. Đây là thời đoạn lịch sử đặc biệt khi vận mệnh của toàn dân tộc, của Đảng đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước những khó khăn, phức tạp Đảng phải tạm thời rút vào hoạt động bí mật dưới các danh nghĩa Hội, Đoàn thể lãnh đạo toàn quân, toàn dân chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Trong vòng vây hiểm nghèo ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, không chấp nhận mọi sự áp đặt. Vì vậy, trong “Toàn dân kháng chiến”, ngày 12-12-1946, Đảng ta hoạch định 5 vấn đề chiến lược, sách lược lớn: “I. Cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta; II. Chương trình kháng chiến; III. Cơ quan chỉ đạo kháng chiến; IV. Những điều răn trong khi kháng chiến và V. Khẩu hiệu tuyên truyền trong thời kỳ kháng chiến”; trong đó, xác định rõ:

1. Mục đích

- Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập.

2. Tính chất

- Trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

3. Chính sách

- Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp.

- Đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình.

- Đoàn kết chặt chẽ toàn dân.

- Thực hiện toàn dân kháng chiến.

- Bảo vệ dân; được lòng dân.

- Nêu tên "Hội liên hiệp quốc dân" mà cổ động kháng chiến.

- Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt [2].

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Từ trái sang phải: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ thực hiện khẩu hiệu: “Thực túc binh cường”, và hằng ngày Người dành thời gian tăng gia sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (năm 1954). Ảnh: hochiminh.vn

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân thực hiện “Toàn dân kháng chiến”; vì vậy, chính quyền cách mạng non trẻ được bước được củng cố từ gốc: Phát động tăng gia sản xuất để chống “giặc đói”; mở các lớp bình dân học vụ để chống “giặc dốt”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh để đánh “giặc ngoại xâm”; bọn tay sai, phản động để giữ vững thành quả cách mạng; củng cố, xác lập chính quyền Trung ương đến cơ sở, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Đêm 19-12-1946, khi thực dân Pháp trắng trợn đánh chiếm Hà Nội, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên như mệnh lệnh của non sông: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa! Chúng ta phải đứng lên!”.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Đáp lại lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, dù phải gian lao kháng chiến, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”, tiếng súng kháng chiến nổ ra trên khắp ba miền. Từ đô thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, quân và dân ta anh dũng chiến đấu, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ lực lượng cách mạng. Các chiến khu Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, chiến trường Nam Bộ trở thành căn cứ địa vững chắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính” của dân tộc ta vào năm đầu tiên của giai đoạn mới của công cuộc kháng chiến - một sáng tạo chiến lược, biến cuộc chiến tranh nhân dân thành sức mạnh vô địch.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Phát lệnh toàn quốc kháng chiến ở Hà Nội, tháng 12-1946.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam

Không chỉ là cuộc chiến giữ nước, kháng chiến chống Pháp còn là cuộc khẳng định ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt Nam. Tinh thần đấu tranh cách mạng anh dũng, tinh thần tự lực, tự cường, ý chí độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta, thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập và lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Lời thề độc lập không chỉ ở chiến hào, mà còn trong hũ gạo kháng chiến, trong phong trào “diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, trong những làng kháng chiến, phố kháng chiến, trong từng mái nhà Việt Nam, quyết không khuất phục.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Lớp bình dân học vụ ở Hà Nội những ngày đầu độc lập. Người dân đứng ngay tại bến đò, bến sông để học chữ. Ảnh tư liệu

Toàn dân đã hưởng ứng và toàn Đảng, toàn quân ta đã đoàn kết theo tinh thần Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về Kháng chiến kiến quốc, ngày 25-11-1945:

“Toàn dân đoàn kết!

Chống Pháp xâm lược!

Giữ vững chính quyền!

Việc Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!

Đông Dương độc lập muôn năm!”.

Chính nhờ “Toàn dân đoàn kết”, khát vọng, ý chí độc lập, tự do mà Cách mạng Việt Nam vượt qua bao phen “ngàn cân treo sợi tóc”, đưa cuộc kháng chiến 9 năm đến thắng lợi vĩ đại bằng chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán thiên tài trong “Lời kêu gọi nhân ngày 19-12-1950” khi khẳng định: “Ngày xưa quân thù ở bên cạnh nước ta và rất hùng mạnh, nước ta còn nhỏ, người ít, sức yếu, thế mà chỉ nhờ đoàn kết và hăng hái, tổ tiên ta đã thắng được quân giặc. Ngày nay, chúng ta đánh quân thù ở xa lại, nước ta lớn hơn, người đông hơn, sức nhiều hơn. Chúng ta lại được nhân dân thế giới đồng tình, chúng ta cũng rất đoàn kết và hăng hái. Cho nên chúng ta chắc chắn rằng kháng chiến nhất định thắng lợi, còn lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ sẽ thất bại đau đớn như quân Nguyên, quân Minh”.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được trang hoàng trên chiếc xe tăng thu được của địch diễu hành mừng chiến thắng tại Điện Biên Phủ, năm 1954.

Giá trị lịch sử còn nguyên sức sống. Nhìn lại chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta càng thấm thía chân lý: Độc lập không tự nhiên mà có, hòa bình không phải là sự ban phát: “Lịch sử dân tộc ta đã có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày Cách mạng Tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô. Cụ Phan Bội Châu đã phải thốt lên rằng:

Đã lắm lúc bầm gan tím ruột,

Vạch trời cao mà tuốt gươm ra,

Cũng xương, cũng thịt, cũng da,

Cũng hòn máu đỏ, con nhà Lạc Long,

Thế mà chịu trong vòng trói buộc,

Mấy mươi năm nhơ nhuốc lầm than!...

Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lẫy lừng khắp năm châu, bốn biển”[3].

Đó là thành quả của máu, của nước mắt, của ý chí quật cường và trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tinh thần “toàn dân kháng chiến” trở thành tài sản vô giá, tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ Tổ quốc hôm nay: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt ứng phó với mọi biến động quốc tế với tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Bác Hồ đã dạy.

Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Mít tinh Tổng khởi nghĩa tại Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội ngày 19-8-1945.
Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

[1] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.35. [2] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.150. [3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.621.

  • Dưới ánh sáng độc lập - Bài 2: Lửa kháng chiến - Ý chí Việt Nam
  • Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN
  • Ảnh: Tư liệu, TTXVN
  • Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC

top