
Mở lòng bao dung để giữ lấy hòa bình
Những ngày cuối tháng 9-2025, Chủ tịch nước Lương Cường dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến New York (Hoa Kỳ) để tham dự Kỳ họp lần thứ 80 Đại hội đồng Liên hợp quốc với chủ đề “Cùng nhau tốt hơn: 80 năm và hơn thế nữa vì hòa bình, phát triển và quyền con người”. Trong chuỗi hoạt động của Chủ tịch nước, chiều 22-9, tại thành phố New York đã diễn ra buổi gặp gỡ cựu chiến binh Việt Nam-Hoa Kỳ đầy ý nghĩa, chứa đựng thông điệp sâu sắc về công lý và đạo lý. Những người từng đối mặt ở hai đầu chiến tuyến đã ngồi lại với nhau để nói những câu chuyện của hơn 50 năm trước.
Trong khán phòng Nhà hát Park Avenue Armory-nơi diễn ra sự kiện, rất đông khách mời là các cựu chiến binh Việt Nam, các cựu binh Hoa Kỳ và thân nhân của họ, cả những người bạn Hoa Kỳ tiến bộ từng xuống đường phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam... đã ngồi kín khán phòng từ rất sớm. Tôi thấy phần đông trong số họ tóc đã bạc trắng, có người đã không thể tự đi lại. Dường như họ đã chờ đợi ngày này từ rất lâu. Ông John Terzano, cựu binh Hoa Kỳ nói với tôi rằng, nhiều người trong số cựu binh Hoa Kỳ đã vượt hàng nghìn ki-lô-mét để đến cuộc gặp mặt. Đặc biệt, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lương Cường đã dự và phát biểu tại sự kiện rất ý nghĩa này.
Buổi chiều, trong khán phòng Nhà hát Park Avenue Armory gợi lại ký ức của những người từng ở hai chiến tuyến hơn 50 năm trước lại trở về qua những thước phim tư liệu. Những bản làng xác xơ của Việt Nam chìm trong khói lửa bom đạn. Nhiều vùng đất đã trở thành “đất chết” bởi chất độc hóa học/dioxin của Mỹ. Những người dân chân lấm tay bùn, chân tay không còn lành lặn nhưng vẫn cố gắng bên những mầm xanh mong cho cây cối sớm đâm chồi nảy lộc... Tiếng kèn saxophone với tác phẩm “Bài ca hy vọng” vang lên trầm bổng. Bao người rơi nước mắt. Cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam khiến rất nhiều cựu binh Hoa Kỳ bị ám ảnh, chưa khi nào nguôi ngoai. Vết thương chiến tranh mãi không thể chữa lành, nó ám ảnh lương tri những cựu binh, khiến họ phải bước ra, làm điều gì đó để hàn gắn vết thương ấy.
Buổi gặp mặt bắt đầu, cả khán phòng lặng đi, nhiều người không nén nổi xúc động, nước mắt lăn dài khi nghe phát biểu của Chủ tịch nước Lương Cường: “Cách đây 30 năm, có lẽ người lạc quan nhất cũng không thể hình dung được bằng cách nào mà Việt Nam và Hoa Kỳ có thể vượt qua nỗi đau của chiến tranh để xây dựng và phát triển mối quan hệ mạnh mẽ, tích cực như hiện nay”. Chủ tịch nước Lương Cường đã nói những lời chạm vào trái tim tất cả: “Chiến tranh đã lấy đi của hai dân tộc Việt Nam-Hoa Kỳ quá nhiều, để lại những giấc mơ còn dang dở và những ám ảnh đầy day dứt. Nhân dân Việt Nam, với lòng nhân ái và bao dung, đã chọn gác lại quá khứ đau thương để hướng đến tương lai; chọn tha thứ, nhưng không quên lãng. Tôi tin rằng, thế hệ mai sau của Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ cùng xây đắp một kỷ nguyên của hòa bình, hợp tác, phát triển và tôn trọng lẫn nhau".
Vì sao Việt Nam và Hoa Kỳ có thể vượt qua nỗi đau của chiến tranh để xây dựng và phát triển một mối quan hệ mạnh mẽ, tích cực như hiện nay? Đối với Việt Nam, đó là sự chính nghĩa. Các thế hệ lãnh đạo, nhân dân Việt Nam, trong đó có rất nhiều cựu chiến binh với sự bao dung, độ lượng đã gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Còn đối với Hoa Kỳ, đi đầu là các cựu binh từng tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam như: Ngoại trưởng, Thượng nghị sĩ John Kerry; Thượng nghị sĩ John McCain và những người bạn Hoa Kỳ tiến bộ... lương tri khiến họ phải làm điều gì đó để bù đắp lại nỗi đau quá lớn mà cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam. Và thời điểm ngày 11-7-1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đồng thời công bố bình thường hóa quan hệ song phương.
Là người phát biểu đầu tiên của phía Hoa Kỳ, ông John Terzano, cựu binh Hoa Kỳ từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam, chia sẻ về hành trình khó khăn trong thời điểm hai nước dần tiến tới bình thường hóa quan hệ: "Thời điểm đó, chúng tôi hiểu dù vẫn còn nhiều việc cần làm đối với những cựu binh của mình, nhưng chúng tôi cần phải bắt đầu quá trình hòa giải. Việc vận động dỡ bỏ cấm vận, bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào thời điểm đó không phải là một quan điểm được ủng hộ rộng rãi ở Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi vẫn kiên trì cùng với những người khác, một vài người trong số đó đang có mặt tại căn phòng này ngày hôm nay”.
Những ngày đầu tiên ấy, ông John Terzano cùng với Thượng nghị sĩ John Kerry và Bobby Muller là những cựu binh Hoa Kỳ đã trở lại Việt Nam năm 1981. Ông chia sẻ, đối với các cựu binh Hoa Kỳ, hành trình trở lại Việt Nam là trải nghiệm đầy cảm xúc, chuyển hóa theo thời gian, từ giận dữ và đau buồn của chiến tranh đến hòa giải, hòa bình, công lý và tình hữu nghị. Ông John Terzano là đồng sáng lập Tổ chức Cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam và Quỹ Cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam, nằm trong nỗ lực hòa giải, xóa bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. “Thế hệ chúng tôi không còn sống đủ lâu để thấy vết thương chiến tranh được chữa lành, nhưng thế hệ tiếp theo sẽ làm điều đó”, ông John Terzano nói.
Tiếp ngay sau phát biểu của ông John Terzano là câu chuyện của một nhà sử học Hoa Kỳ. Ông chia sẻ về cha mình, một cựu binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam và là tù binh chiến tranh nhưng được phía Việt Nam đối xử rất nhân đạo. Ông cho biết: “Tôi nghiên cứu về Việt Nam qua góc nhìn của nhà sử học. Tôi đến Việt Nam và cảm nhận được một nền văn hóa, con người rất khác. Họ không nhìn chúng tôi bằng ánh mắt căm thù, dù chúng tôi gây ra đau thương với đất nước họ. Điều làm tôi cảm động là các cựu chiến binh Việt Nam đã gác lại quá khứ. Lịch sử hơn 50 năm qua đã minh chứng cho điều đó. Mong rằng, con cháu chúng ta sẽ là những người bạn thân thiết, hữu hảo, có mối quan hệ bền vững lâu dài”.
Là người rất hiểu Việt Nam, đến Việt Nam nhiều lần, ông Kelly McKeague, Giám đốc Cơ quan Kiểm kê tù binh và người mất tích Hoa Kỳ, phát biểu: “Không còn nghi ngờ gì, hai nước chúng ta đang chia sẻ tương lai tươi sáng. Hai nước chúng ta từng trải qua giai đoạn đau thương, nếu không có tinh thần vị tha và trắc ẩn của Chính phủ và người dân Việt Nam như ngài Chủ tịch nước Lương Cường đã nói, chúng ta sẽ không có sự tươi sáng hiện nay”. Ông Kelly McKeague cũng nói rằng, hành trình tìm kiếm hài cốt binh sĩ Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam, chính Việt Nam, những người giàu lòng vị tha, trắc ẩn hiểu rằng điều này quan trọng với Hoa Kỳ...
Chỉ riêng vấn đề tìm kiếm hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) cũng đã đủ thấy sự nỗ lực rất lớn của Việt Nam. Chủ tịch nước Lương Cường cho biết: “Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, hàng trăm đợt tìm kiếm, khai quật đã được tiến hành, giúp đưa hàng nghìn di vật, hài cốt quân nhân Hoa Kỳ trở về quê hương. Thiện chí và kết quả của quá trình Việt Nam hợp tác MIA hơn 50 năm qua luôn được chính quyền, Quốc hội, các tổ chức cựu binh và thân nhân quân nhân mất tích của Hoa Kỳ đánh giá cao, coi đây là hình mẫu trong quan hệ hai nước nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung”.
Tại Hoa Kỳ, nhiều cựu binh bước ra từ cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chọn lương tri và bắt tay cùng Việt Nam để bắc những nhịp cầu đầu tiên tôn vinh giá trị hòa bình, hàn gắn, hòa giải giữa hai nước. Nhiều người từng chia sẻ, hội chứng chiến tranh ở Việt Nam khiến rất nhiều cựu binh Hoa Kỳ bị ám ảnh, đeo đẳng, khiến họ cảm thấy mình phải có trách nhiệm hàn gắn mối quan hệ hai nước.
Từ phía các cựu chiến binh Việt Nam, Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam nhắc lại quan điểm của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi: Giữ cho sự hòa hiếu sẽ tắt muôn đời chiến tranh. Tư tưởng hòa hiếu, bao dung, chính nghĩa ấy đã thấm nhuần dân tộc Việt Nam. Mặc dù Việt Nam và Hoa Kỳ có một khúc quanh trong lịch sử nhưng chúng ta đã gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Trung tướng Phùng Khắc Đăng nói với các cựu binh Hoa Kỳ rằng hậu quả của chiến tranh để tại cho nhân dân Việt Nam vô cùng lớn. Hiện vẫn còn hàng triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin, hàng triệu héc-ta đất vẫn còn mầm họa của bom mìn, hàng vạn liệt sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam còn mất tin, mất tích... “Chúng tôi cũng mong muốn cựu chiến binh Việt Nam và Hoa Kỳ có cái nhìn đúng đắn về bản chất của cuộc chiến tranh bằng công lý và đạo lý để tránh những hiểu lầm đáng tiếc cho các thế hệ sau này”, Trung tướng Phùng Khắc Đăng nhấn mạnh.
Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân, người từng trực tiếp chỉ huy bắn rơi máy bay B-52 trong những đêm rực lửa trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972, đã kể về những năm tháng quân ngũ và những ngày chiến đấu trên chiến trường cùng đồng đội bắn rơi máy bay Mỹ. Những chia sẻ về cuộc đời của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt khiến cả khán phòng, nhất là các cựu binh Hoa Kỳ xúc động khi hiểu được vì sao nhân dân Việt Nam, những người như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã cố gắng làm tất cả, sẵn sàng hy sinh xương máu vì chính nghĩa, vì quyền con người cao cả, để thấy được cái giá của chiến tranh và trân trọng hòa bình. “Tôi lớn lên, đi bộ đội, được nghe bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945, rất thấm thía rằng đi bộ đội để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam, trong đó là bảo vệ hòa bình. Ông cũng chia sẻ, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi, nhiều phi công Mỹ bị bắt sống nhưng vẫn được Việt Nam đối xử nhân đạo.
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Từ Đễ, phi công của Phi đội Quyết Thắng, Trung đoàn 923, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không-Không quân, sau này là Phó cục trưởng Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), chia sẻ nhiều câu chuyện về việc máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội và khu gia đình nhà vợ ông cũng bị máy bay Mỹ tàn phá. Chính khu nhà ông ở là “hàng xóm” của các phi công Mỹ bị bắt, bị bắn rơi máy bay đưa về giam giữ. Nhờ chính sách nhân đạo của Việt Nam nên dù các phi công Mỹ bị tạm giam ở Hỏa Lò nhưng hằng ngày, ông vẫn thấy họ được chơi bóng, tham gia các hoạt động, được đối xử tốt.
Đặc biệt, trong cuộc gặp gỡ lịch sử này, cả khán phòng được nghe những chia sẻ của ông Craig McNamara (sinh năm 1950)-con trai của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara. Vì lý do khách quan, ông Craig McNamara không thể đến dự cuộc gặp gỡ được nên gửi đến các đại biểu một clip. Trong clip, ông Craig McNamara chia sẻ, ông đã sang Việt Nam, được thăm hàng rào điện tử McNamara, thăm Đường Hồ Chí Minh, gặp gỡ những người lính của cả hai phía. Ông đã gặp và rất trân quý ông Võ Hồng Nam, con trai vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp; ông Nguyễn Sỹ Hưng, con vị tướng "kiến trúc sư" Đường Hồ Chí Minh-Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên. “Tôi muốn tôn vinh tinh thần hòa giải hôm nay, truyền cảm hứng cho các thế hệ hai nước xây dựng hòa bình”, ông Craig McNamara gửi gắm.
Chia sẻ tại cuộc gặp, ông Võ Hồng Nam cho biết, ông vô cùng xúc động khi được nghe, được chứng kiến từ cha mình và các thế hệ người Việt Nam về tiến trình của những người từ kẻ thù trở thành bạn bè và trở thành đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ. “Cuộc gặp giữa ba tôi-Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara tại Hà Nội vào năm 1995 và 1997 diễn ra với tinh thần thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật. Bằng lòng dũng cảm, sự thiện chí và tinh thần nhân văn sâu sắc, những cuộc gặp gỡ này đều nhằm mục đích khép lại quá khứ, hướng tới một tương lai hòa bình giữa hai dân tộc”, ông Võ Hồng Nam nhấn mạnh.
Cuộc gặp mặt của các cựu chiến binh Việt Nam-Hoa Kỳ để lại dư âm sâu sắc. Câu chuyện của những người trong cuộc đã vượt lên tất cả bằng sự bao dung, vị tha, lòng trắc ẩn và sự cần thiết của công lý, đạo lý. Qua đó có cái nhìn đúng đắn về sự khốc liệt, những mất mát to lớn từ cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam; đồng thời thấy rõ bản chất của cuộc chiến tranh và mong muốn điều đó không bao giờ lặp lại. Như phát biểu đầy ý nghĩa của Chủ tịch nước Lương Cường: “Chúng ta không viết lại được lịch sử! Nhưng với thiện chí và nỗ lực, chúng ta đã và đang chung tay xây dựng tương lai tươi sáng cho hai đất nước. Câu chuyện hàn gắn, hòa giải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là bằng chứng sống động cho thấy sức mạnh của lòng bao dung lớn tới mức nào và có thể phá bỏ những giới hạn ra sao. Việt Nam và Hoa Kỳ đều thấy rằng không có hận thù nào là vĩnh viễn và không có vết thương nào là không thể hàn gắn nếu chúng ta mở lòng và hướng về tương lai”.

- Nội dung: NGUYỄN ANH TUẤN
- Ảnh: QĐND, TTXVN, CONGTHUONG, NHANDAN
- Kỹ thuật, đồ họa: CƯỜNG CÚC

















