Tự chủ vũ khí giữ nước - Khát vọng Việt Nam: Bài 4: Tìm đường tự chủ 5 loại vũ khí, trang bị chiến lược
Tình hình thế giới hiện nay đặt các quốc gia nhỏ yếu trước thử thách gay gắt: Phải tự chủ sản xuất vũ khí công nghệ cao thì mới củng cố được sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam không phải ngoại lệ. Trước mắt, Việt Nam phải giải "bài toán" làm chủ công nghệ sản xuất 5 loại vũ khí, trang bị có tính chiến lược: Vũ khí trang bị cho lục quân; tàu quân sự và vũ khí dưới nước; tên lửa và hàng không vũ trụ quân sự; khí tài quân sự; vật tư kỹ thuật.
Trong những năm qua, tình hình thế giới diễn ra hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ và tác động sâu rộng tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, nhất là cuộc xung đột Nga - Ukraina đã tác động mạnh mẽ đến chuỗi cung ứng toàn cầu, gây đứt gãy, gián đoạn nguồn cung đối với nhiều vật tư, thành phần đầu vào phục vụ nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị, đòi hỏi các nước phải tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng chủ động, tự chủ.
Trong tương lai, nếu xảy ra chiến tranh, sẽ là chiến tranh công nghệ cao, với nhiều loại vũ khí hiện đại, độ chính xác cao, được điều khiển từ xa, có tính tự động hóa cao. Phương tiện trinh sát thông minh, không người lái, người máy sẽ thay thế người lính đảm nhiệm một số nhiệm vụ đặc biệt. Ngoài chiến tranh công nghệ cao mang tính hủy diệt về mặt vật lý, một hình thái chiến tranh không kém phần khốc liệt đó là cuộc chiến tranh thông tin, tác chiến trên không gian mạng. Cuộc xung đột Nga - Ukraine cho thấy sự hỗn loạn về thông tin; thông tin đáng tin cậy bị phong tỏa, ngăn chặn từ hai phía. Chiến tranh thông tin và tác chiến trên không gian mạng diễn biến phức tạp, không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa các bên khó phân định. Để ngăn ngừa và chiến thắng trong cuộc chiến tranh này, cần tăng cường phát triển công nghiệp quốc phòng dựa trên các thành tựu khoa học công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra các hệ thống vũ khí và phương thức tác chiến phù hợp chống lại chiến tranh công nghệ cao của đối phương.
Muốn xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại thì phải kiên định mục tiêu làm chủ thiết kế - công nghệ, chế tạo được các chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, chiến lược, công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu trang bị cho các lực lượng. Do đó, phải có quyết tâm chính trị cao và có nhiều giải pháp thực thi hiệu quả. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã từng chỉ đạo: “Phải đặc biệt chú trọng phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường; phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại dựa trên 3 yếu tố then chốt là: Tiềm lực khoa học công nghệ, nhân lực và xây dựng thể chế...”.
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị, nhất là đẩy mạnh phát triển 5 nhóm sản phẩm vũ khí chính, hiện nay, ngành công nghiệp quốc phòng đang tập trung nghiên cứu, chế tạo hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược của quốc gia như tên lửa, vệ tinh, UAV; ứng dụng và tích hợp mạnh mẽ các công nghệ của Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, như AI, IoT, phân tích dữ liệu lớn, điện toán lượng tử để thông minh hóa các hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Đình Chiến, Bí thư Đảng ủy, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), trong lĩnh vực công nghệ cao, rất ít quốc gia, đối tác chuyển giao công nghệ, chủ yếu là chuyển giao lắp ráp hoặc có chuyển giao cũng với chi phí rất cao. Viettel luôn xác định phải tự nghiên cứu, thiết kế, làm chủ hơn 80% công nghệ và sản phẩm, chỉ tiếp nhận chuyển giao gần 20% khó nhất thông qua đối tác sở hữu công nghệ thành phần hoặc hợp tác với chuyên gia. Đồng thời mạnh dạn làm, thử nghiệm, điều chỉnh liên tục, tìm ra các vấn đề cốt lõi, biến các bài toán phức tạp thành đơn giản. Quan điểm và cách làm này giúp Viettel dễ dàng tùy biến sản phẩm theo nhu cầu và hạn chế sự lệ thuộc vào bên ngoài. Viettel cũng luôn đặt ra mục tiêu cao, đi thẳng vào nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới nhất.
Thiếu tướng Nguyễn Đình Chiến khẳng định: Viettel luôn sẵn sàng nhận các nhiệm vụ mới, nhiệm vụ khó mà Đảng, Chính phủ và Quân đội tin tưởng giao, như: Năm 2011, Viettel tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu đầy thách thức, khởi đầu bằng nghiên cứu chế tạo máy thông tin và ra đa để đáp ứng nhu cầu của Quân đội; năm 2014, Viettel nhận nhiệm vụ A1 và tiếp tục đề xuất nhiều nhiệm vụ quan trọng trong chương trình phát triển công nghiệp tên lửa. Năm 2021, Viettel nhận nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo vệ tinh. Việc dám nhận và đặt ra các mục tiêu khó, thách thức đã tạo cho đội ngũ cán bộ, nhân viên của Viettel tinh thần dám đối diện với thách thức, luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. Mục tiêu càng thách thức, càng khó khăn sẽ càng kích thích sự sáng tạo và tìm ra cách làm đột phá. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Viettel luôn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong Bộ Quốc phòng; luôn xác định phải gắn kết chặt chẽ với các đơn vị trong Quân đội, đặc biệt là các đơn vị sử dụng sản phẩm, đây chính là các khách hàng của Viettel. Các đơn vị đi cùng với Viettel trong tất cả các giai đoạn của quá trình phát triển sản phẩm, giúp Viettel định nghĩa sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm.
Để bảo đảm tiến độ và chất lượng của sản phẩm, nhất là 5 nhóm sản phẩm theo Nghị quyết số 08, bên cạnh Viettel, các cơ sở công nghiệp quốc phòng chủ động đầu tư nhanh và đồng bộ cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Công cụ mô phỏng, phòng thí nghiệm, hệ thống đo lường... Nhằm thu hút, gìn giữ và khuyến khích tạo động lực cho cán bộ, công nhân viên, nhiều cơ sở có mức đãi ngộ cạnh tranh trên thị trường để thu hút, gìn giữ nguồn nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước phục vụ cho các nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất. Như ở Viettel có cơ chế thưởng tối đa 5% giá trị làm lợi mang lại đối với sáng kiến; thưởng cho sáng chế, cho bài báo được công bố trên tạp chí/hội nghị khoa học quốc tế; tài trợ kinh phí công tác nước ngoài cho tác giả công bố quốc tế được báo cáo tại hội nghị quốc tế...
Với những việc làm cụ thể và những mục tiêu đặt ra mang tính chiến lược trong nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, hiện nay, công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã làm chủ việc nghiên cứu, sản xuất và đưa vào trang bị hàng trăm dòng sản phẩm thuộc hàng chục ngành vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội, góp phần giúp nhiều quân, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, nâng cao tiềm lực quân sự, quốc phòng. Các sản phẩm được phát triển phù hợp với chiến thuật, nhu cầu sử dụng, điều kiện tác chiến của Quân đội; được nghiệm thu đạt chất lượng tốt, một số có tính năng kỹ, chiến thuật tiên tiến, hiện đại hơn so với sản phẩm cùng loại nhập khẩu của nước ngoài; có tính bảo mật cao, công tác bảo đảm kỹ thuật, bảo hành, bảo trì nhanh và hiệu quả hơn so với nước ngoài; chi phí hợp lý so với sản phẩm nhập ngoại, giúp tiết kiệm ngân sách Nhà nước hàng chục nghìn tỷ đồng trong việc nhập khẩu vũ khí, trang bị. Nhiều loại vũ khí, trang bị được ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phát triển các dòng sản phẩm thông minh hơn, đa nhiệm hơn.
Thời gian tới, để nghiên cứu, chế tạo, sản xuất thành công các chủng loại vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại và chiến lược trên 5 nhóm sản phẩm chính theo Nghị quyết số 08, thường xuyên cần có sự quan tâm, chỉ đạo, định hướng xuyên suốt của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng và phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị công nghiệp quốc phòng; sự hỗ trợ của các bộ, ngành liên quan, cũng như sự quyết tâm, kiên trì thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, luôn có sự chủ động trong đề xuất các cơ chế, chính sách để tạo hành lang, không gian cho doanh nghiệp trong phát triển công nghiệp quốc phòng công nghệ cao.
Trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, để tự chủ, phải làm chủ thiết kế hệ thống, tích hợp hệ thống, làm chủ công nghệ cốt lõi, chỉ hợp tác với chuyên gia và hợp tác chuyển giao đối với các công nghệ thành phần. Luôn tư duy theo hướng mở để hợp tác, phát huy các nguồn lực bên ngoài, phát huy sức mạnh tổng hợp của các đơn vị trong và ngoài Quân đội; đề ra các giải pháp để thu hút, sử dụng nhân lực và tri thức ở cả trong và ngoài nước, quy tụ và tăng cường các nguồn năng lượng mới từ bên ngoài, có trình độ chuyên môn sâu, đủ năng lực làm chủ các công nghệ, dòng vũ khí, trang bị hiện đại; xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, các hệ thống phòng thí nghiệm, kiểm thử đạt chuẩn quốc tế để phục vụ nghiên cứu, phát triển, sản xuất các hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao...
(Còn nữa)

- Nội dung: Nhóm Phóng Viên
- Ảnh: Báo Quân đội nhân dân, CTV
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC











