Tự chủ vũ khí giữ nước - Khát vọng Việt Nam: Bài 3: Vũ khí mang thương hiệu Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 24-12-2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã bày tỏ niềm tự hào về vũ khí, trang bị mang thương hiệu Việt Nam và nhấn mạnh quyết tâm "nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại trong năm 2026". Từ một quốc gia phải nhận viện trợ, mua sắm, lắp ráp sang tự chủ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất vũ khí để bảo vệ Tổ quốc là một hành trình dài đầy quyết tâm của trí tuệ và ý chí Việt Nam.
Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng nhằm tự chủ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại cho lực lượng vũ trang, góp phần hiện đại hóa Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là chủ trương chiến lược, xuyên suốt, luôn được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Từ năm 1993 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 4 nghị quyết chuyên đề về công nghiệp quốc phòng. Đặc biệt, tháng 9-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã giao nhiệm vụ cho ngành công nghiệp quốc phòng: "Chủ động dự báo, đánh giá xu hướng phát triển khoa học quân sự của thế giới để kịp thời nghiên cứu, phát triển các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược cho Quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống".
Quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, ngành công nghiệp quốc phòng đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, đạt được những kết quả quan trọng, đột phá, tạo bước phát triển mới, toàn diện trên các lĩnh vực. Hệ thống tổ chức ngành từng bước được kiện toàn, có sự gắn kết, hòa nhập với công nghiệp quốc gia. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị được đầu tư nâng cấp, đổi mới, hiện đại hóa. Đội ngũ cán bộ, kỹ sư ngành công nghiệp quốc phòng tăng nhanh về số lượng, chất lượng được nâng cao và từng bước làm chủ các công nghệ mới. Thể chế pháp lý về công nghiệp quốc phòng dần được hoàn thiện; tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng trở thành nội dung quan trọng trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng...
Hiện nay, ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa được hầu hết các loại vũ khí, khí tài, đạn dược để trang bị cho sư đoàn bộ binh đủ quân, vũ khí trang bị cho các quân, binh chủng, vũ khí bộ binh thế hệ mới mà không có nhiều nước trên thế giới làm chủ được; đóng mới các tàu quân sự hiện đại, như: Tàu tên lửa, tàu pháo, các tàu tuần tra, tàu cứu hộ tàu ngầm… Đặc biệt, ngành đã làm chủ công nghệ sản xuất một số loại vũ khí hỏa lực mạnh có điều khiển, vũ khí công nghệ cao. Nổi bật trong số đó là tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) tự chủ nghiên cứu, sản xuất. Đây là một trong những thành phần nòng cốt của hệ thống phòng thủ bờ biển. Sản phẩm này là minh chứng cho bước tiến mạnh mẽ trong năng lực tác chiến công nghệ cao của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đồng thời, công nghiệp quốc phòng Việt Nam sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa được hầu hết các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có trong biên chế, kể cả các loại hiện đại, như: Tàu quân sự, máy bay chiến đấu, các tổ hợp tên lửa, radar thế hệ mới... làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi, chủ động sản xuất nhiều chủng loại vật tư kỹ thuật phục vụ sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị, góp phần nâng cao khả năng tự chủ bảo đảm vật tư trong nước, hạn chế phụ thuộc nhập khẩu. Qua đó, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội đã chuyển dần từ mua sắm, lắp ráp là chính sang làm chủ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất trong nước, góp phần quan trọng vào xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại.
Đằng sau những khí tài được giới thiệu là quá trình lao động bền bỉ của nhiều tập thể và cá nhân trong các viện nghiên cứu, nhà máy quốc phòng. Trong số đó, Trung tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Hằng, Giám đốc Trung tâm C4, Viện Hàng không vũ trụ (Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội) là một gương mặt tiêu biểu, tiếp nối giáo sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Tạ Quang Bửu, anh hùng Ngô Gia Khảm... Sinh năm 1985, được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật hàng không - vũ trụ, đồng chí Lê Thị Hằng trực tiếp tham gia và phụ trách các dự án nghiên cứu tên lửa, tập trung vào nhiệm vụ phát triển đầu tự dẫn - bộ phận giữ vai trò quyết định đối với khả năng bám bắt mục tiêu và điều khiển quỹ đạo bay của tên lửa.
Khi dự án được triển khai, nhóm nghiên cứu do đồng chí Hằng tham gia có quy mô không lớn, trong khi trong nước chưa có tiền lệ về thiết kế, chế tạo đầu tự dẫn cho tên lửa đối hạm. Không có sẵn tài liệu tham khảo, nhóm phải bắt đầu từ việc nghiên cứu nguyên lý hoạt động, xây dựng mô hình kỹ thuật, thiết kế ngược từng phương án và tổ chức thử nghiệm lặp lại nhiều lần. Song song với quá trình đó, các quy trình thử nghiệm được hình thành và hoàn thiện theo điều kiện trong nước, từ thử nghiệm trên bàn thử đến thử nghiệm trong môi trường mô phỏng bay. Những quy trình này tạo nền tảng kỹ thuật cần thiết để chuyển sang giai đoạn hoàn thiện sản phẩm và triển khai ở quy mô lớn hơn.
Sau nhiều năm nghiên cứu liên tục, năm 2020, sản phẩm đầu tự dẫn do Việt Nam tự thiết kế và chế tạo đã được nghiệm thu cấp Bộ Quốc phòng. Trên cơ sở đó, nhóm tiếp tục phát triển thêm ba dòng đầu tự dẫn cùng radar đo cao tương ứng với các loại tên lửa đối hạm khác nhau, từng bước tích hợp vào hệ thống chiến đấu hoàn chỉnh. Các sản phẩm đã được thử nghiệm, đưa vào sử dụng tại các đơn vị kỹ thuật và giới thiệu tại nhiều triển lãm quốc phòng. Tháng 8-2025, ở tuổi 40, Trung tá Lê Thị Hằng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những đóng góp trực tiếp và cụ thể trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao.
Bên cạnh đồng chí Hằng là nhiều kỹ sư, cán bộ kỹ thuật đang làm việc tại các viện nghiên cứu và nhà máy quốc phòng, trực tiếp đảm trách những lĩnh vực then chốt như động cơ tên lửa, radar trinh sát, hệ thống điều khiển hỏa lực, vật liệu mới và công nghệ tích hợp số hóa. Phần lớn trong số họ làm việc lặng lẽ, ít xuất hiện trước công chúng; đóng góp của họ được thể hiện bằng các kết quả cụ thể: Sản phẩm được nghiệm thu, khí tài được đưa vào trang bị và từng bước đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.
Nhìn lại quá trình phát triển vũ khí của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, có thể nhận thấy sự tiếp nối và phát triển liên tục của một truyền thống sáng tạo quân sự gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Từ nỏ Liên Châu và súng thần công trong lịch sử dựng nước, đến những khẩu bazooka, SKZ trong các cuộc kháng chiến hiện đại, và nay là các hệ thống vũ khí công nghệ cao do Việt Nam tự nghiên cứu, chế tạo, đó là một dòng chảy xuyên suốt của tri thức quân sự, năng lực sáng tạo và tinh thần tự lực, tự cường. Mỗi giai đoạn lịch sử đặt ra những yêu cầu khác nhau về kỹ thuật, vũ khí và phương thức tác chiến, song điểm nhất quán là khát vọng làm chủ công cụ bảo vệ Tổ quốc bằng chính năng lực của mình. Trong bối cảnh mới, khát vọng ấy được hiện thực hóa thông qua việc từng bước tiếp cận, làm chủ các công nghệ ngày càng phức tạp, phù hợp với đặc điểm tổ chức lực lượng và yêu cầu của chiến tranh hiện đại.
Những vũ khí, khí tài mang dấu ấn “Made in Vietnam” là sản phẩm của một quá trình tích lũy lâu dài về tri thức khoa học, nguồn nhân lực và tổ chức sản xuất quốc phòng. Đó là những khí tài được hình thành trên cơ sở Việt Nam từng bước làm chủ chu trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và chế tạo, từ các thành phần công nghệ nền tảng đến các hệ thống hoàn chỉnh. Những kết quả này gắn liền với định hướng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trong tiến trình đó, khát vọng tự chủ vũ khí của người Việt không chỉ được thể hiện bằng những sản phẩm cụ thể, mà còn được khẳng định bằng cách thức tổ chức nghiên cứu, đào tạo nhân lực và làm chủ công nghệ. Đó là một quá trình bền bỉ, triển khai từng bước, gắn chặt với yêu cầu củng cố tiềm lực quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Khi những vũ khí do chính người Việt nghiên cứu, chế tạo ngày càng hiện diện trong trang bị của lực lượng vũ trang, khát vọng ấy tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
(Còn nữa)

- Nội dung: Nhóm phóng viên
- Ảnh: Báo Quân đội nhân dân, CTV...
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC














