Máu đỏ tim son khắc vào hồn Tổ quốc - Bài 1: Giữa lầm than chiến tranh

LTS: Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, câu chuyện về hai người cộng sản kiên trung Lê Hồng Tư (1935) và Nguyễn Thị Châu (1938) vẫn được nhiều người nhắc lại. Từ tuổi thơ cơ cực đến những ngày bị kết án tử, bị đày ải trong ngục tối, họ vẫn giữ trọn khí tiết, niềm tin vào Đảng và lý tưởng giải phóng dân tộc. Song hành với khí tiết ấy, là mối tình “Tư - Châu”, lớn lên giữa lao tù và thử thách sinh tử. Ngày tự do, họ tiếp tục dâng hiến trọn đời cho Tổ quốc, cho thế hệ sau và cho nhau.

M

ưa rơi rả rích trên những con đường ở thành phố mang tên Bác, nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân tìm đến căn nhà nhỏ của vợ chồng chú Lê Hồng Tư và cô Nguyễn Thị Châu.

Trên giường nghỉ, cô Châu bị bệnh mấy năm nay, khi tỉnh, khi lẫn, khẽ nhoẻn cười khi chúng tôi đến thăm cô. Ngồi uống nước cùng chúng tôi, chú Tư trải lòng: “Tôi chỉ có ước nguyện cuối cùng, sống thật lâu để chăm sóc vợ”. Ngoài đường, tiếng xe cộ chạy rung nhà, riêng có giọt nước mắt như hạt ngọc trai vẫn còn đậu trên gò má chú chưa chịu rời đi, như minh chứng cho tình yêu của hai người dành cho nhau.

Chú Tư và cô Châu cùng trải qua những năm tháng đen tối nhất, nguyện cùng sống, cùng chết, hiên ngang giữa kẻ thù. Ở tuổi 90, chú vẫn minh mẫn, nhớ rõ từng sự kiện, chi tiết. Giọng chú Tư chậm rãi nhưng ánh mắt sáng rực, phản chiếu sắc đỏ cách mạng năm nào…

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng Gia Định, tuổi thơ của Lê Hồng Tư gắn với những ngày chạy càn. Năm 1949, thực dân Pháp liên tiếp càn quét, cha mẹ nghèo khó đành gán cậu con trai đi ở đợ để trừ nợ. Những trận đòn vô cớ, những bữa cơm thừa canh cặn đã sớm hun đúc trong chàng trai trẻ lòng căm thù áp bức. Sau một trận đòn nặng, Tư bỏ trốn lên Sài Gòn, xin học nghề thợ sắt. Giữa khổ cực, Tư vẫn lén đọc báo, nghe chuyện kháng chiến, mơ về một ngày đất nước được tự do.

Năm 1951, Tư bỏ nghề sắt, chuyển sang học điện rồi sửa tàu. Vừa làm, vừa học tại Trường Trung-Tiểu học Kiến Thiết, Tư siêng năng, ham học, được nhiều người quý mến. Cũng trong thời gian này, Tư bước vào con đường hoạt động bí mật, tham gia các tổ chức học sinh, sinh viên ủng hộ cách mạng.

Ở Biên Hòa, cô bé Nguyễn Thị Châu 9 tuổi cũng đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 12 tuổi, khi mẹ của Châu nghẹn ngào xin lỗi Châu vì không thể lo tiền ăn học, bảo mai này lớn Châu hãy xin việc ở “tòa bố” để phụ nuôi em, Châu đã lắc đầu, nói khẽ mà dứt khoát: “Ngày mai con lại đi bán cá với má. Con không vào ‘tòa bố’ đâu… làm cho chánh quyền nhục lắm!”

Hai chữ “chánh quyền” in sâu trong tâm trí cô bé nhỏ. Trong gia đình, ba và cậu của Châu đều hoạt động cách mạng, ngã xuống dưới họng súng quân thù. Từ thuở nhỏ, Châu đã được anh Hai (con trai của cậu) tặng tấm ảnh Bác Hồ, sau này Châu lớn lên thì được đi cùng dự mít tinh. Lần đầu tiên Châu bị bắt, giam mấy ngày ở bốt vì đi đầu trong đoàn rước ảnh Bác.

Một bữa đi làm ruộng, anh Hai nói nhỏ với Châu: “Anh đi theo kháng chiến đây”, rồi quay lưng chạy thẳng vào rừng sâu. Châu nhìn theo bóng anh Hai khóc cạn nước mắt, nhưng trong lòng hiểu anh Hai đi theo kháng chiến là tiếp bước những người như ba anh, ba Châu. “Sau này mình cũng sẽ đi theo con đường ấy”, Châu tự nhủ, lấy tay quệt nước mắt.

Nhờ người quen giúp đỡ, Châu lên Sài Gòn học tiếp. Chính lần trở lại này, Châu đã gặp Lê Hồng Tư… Mùa tựu trường 1956, trong sắc phượng đỏ ở Trường Văn Lang, Tư và Châu gặp nhau. Tư khi ấy là lớp trưởng, đoàn viên của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam, được cử sang Trường Văn Lang gây dựng phong trào học sinh yêu nước. Còn Châu là Trưởng ban Toán, học giỏi và say mê lý tưởng cách mạng. Từ những buổi học chung, họ tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn. Sau này, chính Tư là người trực tiếp giới thiệu và kết nạp Châu vào Đoàn.

Đầu năm 1960, phong trào đấu tranh trong học sinh, sinh viên Sài Gòn sôi nổi. Theo chỉ đạo, Châu và một số đồng chí cố tình thi trượt để ở lại trường, tiếp tục lãnh đạo phong trào. Còn Tư được điều sang xây dựng cơ sở bên Trường Nguyễn Văn Khê. Đêm trước ngày chia tay, Tư bày tỏ tình cảm của mình với Châu. Nhưng Châu trực tiếp nói thẳng: “Tôi không có ý định lập gia đình”. Cả hai hiểu, phía trước là cuộc kháng chiến trường kỳ, chưa thể nghĩ về chuyện riêng tư.

Một lần, trong quá trình hoạt động cấp trên mất liên lạc với Châu, nên nhờ Tư nối lại đường dây. Lòng như lửa đốt, Tư tìm được Châu ở Sài Gòn sau gần một năm. Hai người cùng triển khai kế hoạch chào mừng “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam” ra đời, tổ chức biểu tình chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Gặp Châu lần này, Tư để lại lời hẹn: “Còn sống trên đời, tôi sẽ mãi yêu Châu”.

Không lâu sau, Châu bị lộ danh tính sau một đợt đấu tranh. Vào tháng 2-1961, trên đường tan học, Châu bị cảnh sát vây bắt, đưa về “trại cải huấn” trong bót Lê Văn Duyệt. Nhóm bắt giữ Châu thuộc “đoàn công tác đặc biệt” của Ngô Đình Cẩn.

Châu bị giam, thẩm vấn bí mật trong khuôn viên Sở thú Sài Gòn, với đủ cực hình: Treo ngược xà nhà, “tàu bay”, “tàu lặn”, chích điện... khiến Châu nhiều lần ngất lịm. Khi tỉnh dậy, xung quanh Châu là màu đen tối của buồng giam, với đặc quánh mùi máu tanh nồng. Từ Tổng nha Cảnh sát đến nhà tù Thủ Đức, đề lao Gia Định... nơi nào Châu cũng trải qua đòn thù khốc liệt nhưng không hé một lời khai.

Cùng năm ấy, phong trào đấu tranh đô thị dâng cao, đặc biệt sau vụ ném lựu đạn giết hụt đại sứ Mỹ Nolting trên đường Pasteur (8-7-1961), do tổ võ trang quyết tử Lê Văn Thành thực hiện, với sự chỉ đạo của Lê Hồng Tư. Chính quyền Diệm-Nhu lập tức ban bố tình trạng khẩn cấp, truy lùng khắp nơi.

Giữa tháng 8-1961, Lê Hồng Tư bị bắt. Tại Tổng nha Cảnh sát, Tư chịu những trận tra tấn man rợ, roi quất toạc lưng, tay bị treo ngược, dọa dìm xuống sông Nhà Bè. Giữa đòn thù, Tư vẫn giữ trọn bí mật của tổ chức. Chỉ đau đáu nghĩ mình mới ở trong này bị địch tra tấn hơn một tuần, còn Châu đã trong tù 6 tháng, thì còn đau đớn, khổ cực đến chừng nào. Tư ứa nước mắt!

Ngày 23-5-1962, địch mang Tư cùng các đồng chí ra tòa. Cáo trạng nêu: “12 Việt cộng mưu sát đại sứ Nolting; ném lựu đạn vào nhân viên Mỹ; tấn công xe tuần tiễu quân đội Việt Nam Cộng hòa...”. Tiếng búa gõ đúng 0 giờ 5 phút ngày 24-5: “Lê Hồng Tư-tử hình; Lê Văn Thành-tử hình; Lê Quang Vịnh-tử hình...”, tên chánh án cười đểu hỏi: “Giờ đã hối hận chưa?” - Tư cùng đồng đội gầm lên: “Đả đảo Mỹ-Diệm!”.

  • Nội dung: THÁI PHƯƠNG - BẢO NGÂN
  • Ảnh: NGUYỄN Á - TRẦN ĐINH - HỒNG QUANG
  • Kỹ thuật, đồ họa: HÀ THANH