Trung tướng Tào Đức Thắng: Đổi mới sáng tạo, công nghệ chiến lược và con đường tự chủ của doanh nghiệp Việt
Nhân dịp kỷ niệm 37 năm ngày thành lập Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (1-6-1989/1-6-2026), cũng là ngày được chọn làm Ngày Sáng tạo hằng năm của Viettel, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có buổi trao đổi với Trung tướng Tào Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel về cách Viettel biến đổi mới sáng tạo thành năng lực cốt lõi, cơ chế chấp nhận rủi ro, định hướng phát triển các công nghệ chiến lược như bán dẫn, lượng tử, trí tuệ nhân tạo (AI) và những kiến nghị về cơ chế chính sách cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Phóng viên (PV): Công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến… là những công nghệ chiến lược quốc gia quan trọng được Đảng và Nhà nước yêu cầu nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng, thương mại hóa. Viettel có kế hoạch như thế nào đối với các công nghệ chiến lược này, thưa đồng chí?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Các công nghệ chiến lược như lượng tử, bán dẫn, vật liệu tiên tiến… đều là những lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với tương lai phát triển của đất nước. Định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề cốt lõi đang nằm ở cách đi và lộ trình đi như thế nào, bởi sẽ không có chuyện các công nghệ lõi được chuyển giao một cách dễ dàng. Vì vậy, Việt Nam buộc phải xác định con đường tự chủ, từng bước đi lên bằng chính năng lực của mình.
Kinh nghiệm của Viettel là vừa làm vừa phối hợp. Để có thiết bị 5G có thể triển khai đồng bộ ở các thị trường quy mô vài triệu dân như hiện nay là quá trình Viettel đã nghiên cứu tuần tự từ điện tử, viễn thông, 4G rồi phát triển lên 5G.
Thế mạnh của Viettel là chúng tôi có thị trường, nhưng quan điểm của chúng tôi là doanh nghiệp không thể thay thế vai trò của viện nghiên cứu hay trường đại học, mà phải phối hợp chặt chẽ với họ để làm chủ công nghệ. Chẳng hạn, muốn phát triển các lĩnh vực khoa học công nghệ cao thì đều phải nắm vững lý thuyết cơ bản, ví dụ như bắt tay vào nghiên cứu công nghệ lượng tử thì phải thực sự hiểu vật lý lượng tử. Các trường và viện nghiên cứu đóng vai trò đào tạo đội ngũ từ gốc, từ sinh viên trở đi, để doanh nghiệp có thể đi xa hơn.
Viettel luôn lựa chọn cách tiếp cận "đi từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ làm chủ đến tự chủ": Bắt đầu bằng mô phỏng, làm mẫu thử quy mô nhỏ rồi từng bước làm chủ. Phần nào có thể tự làm thì chủ động triển khai; phần nào chưa làm được thì hợp tác, trao đổi với các đối tác phù hợp.
Quan trọng nhất là phải xác định mục tiêu rất rõ ràng, đặc biệt là gắn công nghệ chiến lược với sản phẩm chiến lược cụ thể. Một sản phẩm có thể tích hợp nhiều công nghệ, nhưng khi đặt mục tiêu cụ thể thì việc tổ chức nghiên cứu, triển khai sẽ rõ ràng và khả thi hơn rất nhiều.
PV: Vậy, Viettel đang tham gia R&D các công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược quốc gia nào thưa đồng chí?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Theo định hướng về danh mục công nghệ chiến lược quốc gia, có các nhóm công nghệ chiến lược đi kèm danh mục sản phẩm chiến lược tương ứng. Trong số đó, Viettel tham gia ở 9/10 nhóm công nghệ.
Về danh mục sản phẩm chiến lược, chúng tôi nhìn nhận có hai nhóm: Nhóm sản phẩm có thể đưa vào ứng dụng nhanh do thị trường đã hình thành rõ nét, như AI, y tế, nông nghiệp, vật liệu; và nhóm sản phẩm chiến lược mang tính tương lai như vệ tinh. Đi kèm còn có các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược không gian. Riêng lĩnh vực vật liệu, đặc biệt là vật liệu tiên tiến, chúng tôi đánh giá là nền tảng cực kỳ quan trọng và đang tập trung nghiên cứu mạnh.
Với những công nghệ khó như lượng tử, quan điểm của chúng tôi là phải thực sự hiểu sâu bản chất khoa học. Tập đoàn hiện đang hỗ trợ nhiều đề tài nghiên cứu, phối hợp với các viện nghiên cứu và xác định phải đào tạo đội ngũ bài bản trước khi triển khai trên diện rộng.
PV: Đồng chí đánh giá, nhìn nhận về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi R&D công nghệ lượng tử như thế nào?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Công nghệ lượng tử vừa mang lại cơ hội lớn, vừa có không ít thách thức. Về cơ hội, lợi ích lớn nhất của công nghệ lượng tử là khả năng tính toán cực nhanh, giải được những bài toán mà máy tính thông thường rất khó xử lý. Ví dụ điển hình là phân tích gen, hay phát hiện sớm tế bào ung thư khi mới chỉ có một vài tế bào lạ, giúp can thiệp và điều trị kịp thời. Đây chính là năng lực tính toán mà Viettel hướng tới.
Để hiểu đúng bản chất, cần nhận thức rõ: Máy tính lượng tử không phải là một chiếc máy tính thông thường có màn hình, RAM hay ROM — đây là một phương pháp tính toán hoàn toàn khác. Máy tính thông thường dùng bit, tại mỗi thời điểm chỉ ở một trạng thái 0 hoặc 1, muốn biểu diễn hết các trạng thái phải lần lượt từng bước. Lượng tử dùng qubit — tại một thời điểm có thể đồng thời đại diện cho rất nhiều trạng thái, nên với hàng nghìn qubit, số trạng thái biểu diễn được là cực lớn.
Về thách thức và nguy cơ, rõ nhất là tác động đến an ninh mạng. Hiện nay, dữ liệu trên đường truyền được bảo vệ bằng các thuật toán mã hóa như RSA — vốn dựa trên một "luật chơi" toán học mà máy tính thông thường phải mất rất nhiều thời gian mới phá được. Với máy tính lượng tử, việc giải mã đó có thể trở nên rất nhanh. Đáng lo hơn, tin tặc hoàn toàn có thể thu thập, gom dữ liệu mã hóa ngay từ bây giờ để chờ giải mã về sau, khi công nghệ lượng tử đã trưởng thành hơn.
Để đối phó với nguy cơ này, hướng đi quan trọng là mật mã hậu lượng tử — PQC (Post-Quantum Cryptography). Đây chính là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam, trong đó có Viettel, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp bảo mật thế hệ mới, song song với việc phát triển năng lực AI.
PV: Trong nhà máy chip bán dẫn hay lĩnh vực lượng tử, trí tuệ và giá trị của người Việt, của Viettel nằm ở đâu thưa đồng chí?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Về tổng thể, chuỗi sản xuất chip gồm ba khâu chính: Thiết kế, sản xuất (đúc chip) và đóng gói – kiểm thử. Hiện nay, Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu thiết kế cùng đóng gói – kiểm thử. Riêng khâu thiết kế đang được nhiều đơn vị triển khai, trong đó có Viettel với đội ngũ kỹ sư người Việt Nam tại Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh…
Giá trị cốt lõi mà người Việt tạo ra nằm ở thiết kế chip theo nhu cầu sử dụng thực tế: Chip cho máy chủ, IoT, xử lý biên hay chíp nguồn.
Khâu sản xuất là phần cực kỳ khó, hiện nay, từ một bản thiết kế, muốn đúc chip phải xếp hàng để thuê làm và điều này cần chờ thời gian rất dài. Vì vậy, nhà máy sản xuất bán dẫn của Viettel trước mắt sẽ đóng vai trò phát triển năng lực thiết kế, thử nghiệm ngay trong nước, rút ngắn được nhiều thời gian và công sức, giúp cho trí tuệ của Việt Nam trong lĩnh vực này được khai thông một cách hiệu quả.
PV: Với những lĩnh vực rất mới như công nghệ lượng tử, vật liệu mới Viettel thu hút chuyên gia Việt kiều, chuyên gia nước ngoài như thế nào?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Chúng tôi có các chính sách nhằm thu hút nhân tài, bao gồm cả chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, đi cùng với đó là cơ chế bố trí phù hợp theo từng khu vực công việc và hệ thống đánh giá, kiểm soát chặt chẽ đối với các vị trí quan trọng.
Ví dụ, những kỹ sư có trình độ cao có thể tham gia các lĩnh vực trọng yếu tùy theo năng lực chuyên môn và yêu cầu bảo mật.
PV: Theo quan điểm của đồng chí, để phát triển công nghệ lõi, tự chủ công nghệ chiến lược, Việt Nam có cần hình thành những tập đoàn công nghệ chủ lực để dẫn dắt không?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Theo tôi là rất cần thiết. Muốn phát triển những ngành như bán dẫn thì phải kéo theo cả hệ sinh thái phía sau, từ vật liệu đến hóa chất và các công nghiệp phụ trợ.
Giá trị lớn nhất nằm ở việc làm chủ chuỗi giá trị, cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang. Nếu chỉ tham gia một công đoạn nhỏ như lắp ráp hay đóng gói cuối cùng thì giá trị tạo ra cho nền kinh tế sẽ rất hạn chế.
Vì vậy, Việt Nam cần hình thành các ngành công nghiệp nền tảng như vật liệu, hóa chất… cùng với những doanh nghiệp chủ lực có khả năng dẫn dắt để tối đa hóa giá trị gia tăng ở từng khâu.
Trong không khí khẩn trương đưa các nghị quyết đi vào đời sống, nhiều bộ, ngành đã chủ động mời doanh nghiệp tham gia định hướng công nghệ. Chẳng hạn trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, Viettel có thể tham gia các hệ thống thông tin điều khiển, phủ sóng 5G trên các tuyến cao tốc. Tinh thần chung hiện nay là rất khẩn trương.
PV: Theo đồng chí, có những cơ chế chính sách như thế nào để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho đổi mới sáng tạo, R&D?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất là phải tạo được đầu ra cho sản phẩm. Khi có thị trường tiêu thụ rõ ràng, doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn đầu tư nghiên cứu và phát triển.
Đầu ra lại phụ thuộc rất lớn vào cơ chế chính sách. Khi Nhà nước ban hành ban hành quy định, thị trường sẽ lập tức hình thành. Giống như trước đây, khi quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm được áp dụng, ngành sản xuất mũ bảo hiểm đã phát triển rất nhanh.
Tôi cho rằng thay vì cấp tiền trực tiếp cho doanh nghiệp nghiên cứu một sản phẩm chưa rõ bán cho ai, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế “voucher”, tức là hỗ trợ phía cầu để người mua lựa chọn sản phẩm công nghệ trong nước. Khi đó doanh nghiệp sẽ buộc phải làm ra sản phẩm tốt, cạnh tranh thực sự để bán được hàng, thay vì chỉ trông chờ vào nguồn vốn nghiên cứu.
Tất nhiên, đối với những công nghệ nền tảng và mang tính tương lai như vệ tinh, bán dẫn hay công nghệ hạt nhân – nơi thị trường đầu ra chưa hình thành – Nhà nước vẫn cần đóng vai trò đầu tư để nâng cao tiềm lực quốc gia.
PV: Một thực tế là nhiều sản phẩm công nghệ “Make in Vietnam” vẫn chưa được các doanh nghiệp trong nước sử dụng rộng rãi dù Nghị quyết 57 đã nhấn mạnh ưu tiên sản phẩm nội địa. Đồng chí nhìn nhận thế nào?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Đây thực sự là một vấn đề lớn và đã được nhận diện khá rõ. Nguyên nhân đầu tiên nằm ở giá thành. Khi sản xuất với số lượng nhỏ – vài nghìn hay vài chục nghìn thiết bị – thì chi phí nghiên cứu, nhà xưởng, nhân công… tính trên mỗi đơn vị sản phẩm cao, khiến giá sản phẩm đội lên rất nhiều so với sản xuất hàng triệu thiết bị. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ từ phía người mua.
Nguyên nhân thứ hai là các quy định trong đấu thầu. Nhiều tiêu chí hiện nay như yêu cầu “hợp đồng tương tự” hay kinh nghiệm nhiều năm vô hình trung tạo ra rào cản cho sản phẩm Việt Nam.
Có những sản phẩm doanh nghiệp trong nước hoàn toàn làm được nhưng lại không thể bán vì chưa từng có hợp đồng quy mô lớn để chứng minh năng lực. Điều đó cũng giống như yêu cầu sinh viên mới ra trường phải có nhiều năm kinh nghiệm làm việc. Đây là những điểm cần được sửa đổi nếu muốn ưu tiên thực chất cho sản phẩm công nghệ trong nước.
PV: Nghị quyết 57 đề cao tinh thần chủ động, thần tốc và chấp nhận rủi ro. Theo đồng chí, cần cụ thể hóa tinh thần này như thế nào?
Trung tướng Tào Đức Thắng: Năm 2026 có rất nhiều nhiệm vụ lớn liên quan đến công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược. Đi cùng với đó là những cơ chế rất đáng chú ý, đặc biệt là cơ chế đánh giá – yếu tố tạo động lực rất lớn cho đội ngũ nghiên cứu chứ không chỉ đơn thuần là nguồn vốn.
“Chủ động” nghĩa là mỗi cá nhân, mỗi nhóm nghiên cứu phải tự đề xuất hướng đi, tự tìm giải pháp, bởi lãnh đạo không thể nghĩ thay tất cả. Không đi được con đường này thì phải chủ động tìm con đường khác.
“Thần tốc” là tinh thần làm việc liên tục, khẩn trương và quyết liệt.
Còn “táo bạo” không đồng nghĩa với liều lĩnh. Táo bạo vẫn phải đi cùng hiệu quả, tránh rơi vào mạo hiểm cực đoan.
Tựu trung lại, đây là giai đoạn cần khuyến khích đội ngũ nghiên cứu mạnh dạn dấn thân, yên tâm thử sức với những công nghệ mới và những lĩnh vực chưa từng có tiền lệ.
PV: Xin cảm ơn đồng chí!

- Nội dung: VĂN PHONG
- Ảnh: Báo Quân đội nhân dân, TUẤN HUY, VIETTEL
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC



















