Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong thế giới biến động - Bài 2: Tự chủ chiến lược: Bước phát triển mới trong tư duy của Đảng
Trong dòng chảy lịch sử cách mạng Việt Nam, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều gắn liền với sự phát triển tương ứng của tư duy bảo vệ Tổ quốc. Nếu như trong chiến tranh, nhiệm vụ trung tâm là “đánh thắng kẻ thù xâm lược”, thì trong thời bình, yêu cầu cao hơn được đặt ra: giữ vững môi trường hòa bình để phát triển, đồng thời không để Tổ quốc rơi vào thế bị động, bất ngờ. Chính trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, chiến tranh hiện đại chuyển hóa sang nhiều hình thái mới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục phát triển tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc, với một điểm nhấn nổi bật: “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.
Các cuộc xung đột đương đại là minh chứng sống động rằng: chiến tranh không đến bất ngờ, mà hình thành từ quá trình tích tụ dài hạn của các mâu thuẫn và các yếu tố địa chính trị, kinh tế, công nghệ và xã hội. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), số cuộc xung đột vũ trang trên thế giới giai đoạn 2020 - 2024 tăng gần 30% so với thập niên trước, nhưng phần lớn đều có giai đoạn “tiền xung đột” kéo dài nhiều năm, với các biểu hiện trong “vùng xám”.
Tại Đại hội XIV của Đảng, “tự chủ chiến lược” là mệnh đề mới được đưa vào chủ đề đại hội. Nội dung này thể hiện bước phát triển mang tính đột phá về tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới… Trong đó, tự chủ chiến lược về quốc phòng là khả năng của một quốc gia chủ động hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, phương thức bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng và xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh mà không bị lệ thuộc, chi phối từ bên ngoài.
GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy chiến lược của Đảng, chuyển từ thế bị động sang chủ động kiến tạo môi trường an ninh có lợi cho đất nước. Đồng thời là sự mở rộng không gian và thời gian của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng”.
Một trong những bước đột phá trong tư duy chiến lược của Đại hội XIV là đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển đất nước. Nếu trước đây, quốc phòng, an ninh thường được nhìn nhận như một lĩnh vực tương đối độc lập, thì nay đã được xác định rõ: bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là kết quả của sự kết hợp tổng hợp giữa các yếu tố: Kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, đối ngoại, văn hóa - xã hội. Điều này phản ánh một nhận thức mới: sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ nằm ở quân sự, mà nằm ở tổng thể sức mạnh quốc gia.
Một trong những dấu ấn nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là việc xác định đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đóng vai trò tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Giữa một thế giới liên kết chặt chẽ, không một quốc gia nào có thể tự bảo vệ mình nếu đứng ngoài các mối quan hệ quốc tế. Ngược lại, một chính sách đối ngoại khôn khéo, linh hoạt có thể tạo ra “lá chắn mềm” hiệu quả, giúp ngăn ngừa xung đột, giảm thiểu rủi ro và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài.
Phát biểu kết luận tại Hội nghị Trung ương 2 (Khóa XIV), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.
Tuy nhiên, trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại, yêu cầu đặt ra ngày càng rõ nét là phải xử lý hài hòa giữa mở rộng hợp tác và giữ vững tự chủ chiến lược. Một nền đối ngoại hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc gia tăng số lượng đối tác, mà quan trọng hơn là tạo dựng được thế cân bằng chiến lược, không để đất nước rơi vào thế bị động trước những biến động phức tạp của cục diện quốc tế.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Giữ vững độc lập, tự chủ về chiến lược là nguyên tắc bất di bất dịch; đồng thời phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng để tạo thế đan xen lợi ích, ngăn ngừa xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.
Thực tiễn cho thấy, chính nhờ kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, Việt Nam đã từng bước xây dựng được vị thế “đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm”, đồng thời giữ vững được không gian chiến lược cần thiết để xử lý linh hoạt các vấn đề an ninh, quốc phòng trong môi trường cạnh tranh nước lớn.
Thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã mở rộng quan hệ với hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế; tăng cường vị thế và uy tín trên trường quốc tế; tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển… Đây chính là cách “giữ nước từ xa” bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với xu thế của thời đại.
An ninh phi truyền thống (Non-Traditional Security - NTS) là khái niệm chỉ các mối đe dọa đến an ninh quốc gia và an ninh con người không mang tính chất quân sự truyền thống (như xung đột vũ trang giữa các nhà nước). Thay vào đó, chúng xuất phát từ các yếu tố phi quân sự, thường có tính xuyên quốc gia, khó dự báo, lan rộng nhanh và ảnh hưởng toàn diện đến kinh tế - xã hội, môi trường, sức khỏe, chính trị - tinh thần của con người và quốc gia
Một đặc điểm nổi bật của môi trường an ninh hiện nay đang chứng kiến sự bùng nổ của các mối đe dọa phi truyền thống: An ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh toàn cầu… Những thách thức này không gây ra chiến tranh theo nghĩa truyền thống, nhưng lại có thể làm suy yếu tiềm lực, sức mạnh quốc gia, tạo ra những điểm dễ tổn thương chiến lược.
Theo báo cáo năm 2024 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), các rủi ro hàng đầu toàn cầu gồm: Tấn công mạng; biến đổi khí hậu; khủng hoảng năng lượng; dịch bệnh xuyên quốc gia.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh: “Không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược mới, nơi các quốc gia vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, thậm chí đối đầu”. Điều này cho thấy: bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, mà còn là bảo vệ chủ quyền số, dữ liệu và nhận thức xã hội.
Trong mọi thời đại, nhân dân luôn là nhân tố quyết định sức mạnh của quốc gia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu - Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong bối cảnh hiện nay, điều đó càng trở nên đúng đắn hơn bao giờ hết. Một quốc gia có thể có tiềm lực kinh tế mạnh, quân đội hiện đại, nhưng nếu lòng dân không ổn định, xã hội không đồng thuận, thì sẽ rất dễ bị tác động từ bên ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: Thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hoá giải. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh: “Phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa “thế” và “lực”, giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội”.
M
ột trong những điểm yếu phổ biến của nhiều quốc gia khi đối mặt với khủng hoảng là thiếu năng lực dự báo chiến lược. Trong bối cảnh “vùng xám”, khi các dấu hiệu xung đột không rõ ràng, việc dự báo càng trở nên khó khăn, nhưng cũng càng quan trọng. Giáo sư Carl Thayer (Học viện Quốc phòng Australia) nhận định: “Thách thức lớn nhất không phải là thiếu thông tin, mà là không phân tích đúng và hành động kịp thời trước các tín hiệu cảnh báo”.
Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra: Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình… ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự từ sớm, từ xa.
Trong thời đại ngày nay, điều đó có thể được hiểu rộng hơn: Chiến tranh là kết quả của những biến động chính trị, kinh tế, xã hội tích tụ trong thời gian dài. Do đó, nâng cao năng lực dự báo không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn, mà phải trở thành năng lực của cả hệ thống chính trị.
Ở tầm cao hơn, năng lực dự báo chiến lược chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn liền với năng lực tự chủ trong hoạch định và thực thi chiến lược. Nếu không có tự chủ chiến lược, các dự báo dù chính xác cũng khó chuyển hóa thành hành động hiệu quả, thậm chí có thể bị lệ thuộc vào các kịch bản do bên ngoài chi phối.
Để hiện thực hóa tư duy “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: Hoàn thiện thể chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng; xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả đối ngoại; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ lõi; tăng cường giáo dục quốc phòng, nâng cao nhận thức toàn dân.
Quan trọng nhất, đó là phải kiên định tư duy tự chủ chiến lược thống nhất, xuyên suốt trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong đó, tự chủ chiến lược cần được cụ thể hóa trên ba trụ cột then chốt: Tự chủ về tư duy và đường lối: kiên định mục tiêu, không dao động trước các sức ép bên ngoài. Tự chủ về tiềm lực: xây dựng nền kinh tế độc lập, tự cường gắn với nền quốc phòng toàn dân hiện đại. Tự chủ về công nghệ và tri thức: làm chủ các công nghệ lõi, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và không gian mạng.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: “Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, tư duy của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc luôn được bổ sung, phát triển kịp thời theo yêu cầu của từng giai đoạn, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nắm chắc bối cảnh trong nước và quốc tế, bảo đảm vừa kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa chủ động, linh hoạt trong xử lý các tình huống mới. Chính quá trình bổ sung và phát triển đó đã tạo nền tảng để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và cả hệ thống chính trị, củng cố thế và lực quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.

- Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN
- Ảnh: TTXVN, Global Images Ukraine, Reuters, CTV
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC











