Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ứng dụng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại

Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong những năm qua.

Trong bối cảnh thế giới đầy biến động và cạnh tranh chiến lược gay gắt, việc chủ động xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là bước đi chiến lược thể hiện rõ tầm nhìn, tư duy mới và quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Trong đó, Quân đội giữ vai trò nòng cốt trong nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Thực tiễn xây dựng quân đội của các quốc gia cho thấy, sự phát triển của một đội quân hiện đại là sản phẩm tích hợp giữa tổ chức lực lượng vũ trang và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong vũ khí, trang bị kỹ thuật. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tạo ra những hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật có tính năng vượt trội, thông minh hơn, chính xác hơn, xa hơn và uy lực hơn; đồng thời, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến và huấn luyện mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) cùng các đại biểu tham quan sản phẩm, khí tài hiện đại của Viettel tại Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị xác định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường[1]. Trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp chưa từng có, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng là hướng đi chiến lược, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có tác động sâu rộng, toàn diện đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo quốc phòng, an ninh. Về tư duy lý luận, Đảng ta đã có bước phát triển vượt bậc khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức truyền thống coi công nghệ chủ yếu là công cụ hỗ trợ, Đảng ta đã nâng tầm thành “đột phá chiến lược”, xác định đây là động lực chính để hiện đại hóa lực lượng vũ trang và củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Tư duy này khẳng định rằng sức mạnh quốc phòng không còn tách rời khỏi sức mạnh khoa học, công nghệ quốc gia; việc làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi và thực hiện chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Các đại biểu tham quan sản phẩm công nghệ do Viettel nghiên cứu, chế tạo được trưng bày tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Tập đoàn Viettel lần thứ XI.

Thứ nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số góp phần tạo ra hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật mới với tính năng vượt trội; đồng thời, cải tiến, hiện đại hóa, thông minh hóa hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật truyền thống. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã làm xuất hiện một số công nghệ mới nổi, như: trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật, phân tích dữ liệu lớn, các hệ thống tự điều khiển, công nghệ mạng 5G/6G, công nghệ năng lượng định hướng, tích hợp cảm biến, công nghệ siêu vượt âm, công nghệ vệ tinh và không gian,... tạo ra những hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, thông minh, có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi sâu sắc diện mạo và sức mạnh quân sự. Ứng dụng tiến bộ công nghệ trong quân sự, quốc phòng là một trong các yếu tố quyết định chiến thắng xung đột chiến tranh, giảm thiểu thương vong về con người. Bằng việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhiều quốc gia phát triển, sản xuất được các hệ thống vũ khí mới, như: vũ khí năng lượng dẫn đường, các loại đạn siêu vận tốc và tên lửa siêu vượt âm. Tích hợp thành tựu khoa học và công nghệ, nhất là thành tựu công nghệ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào hệ thống vũ khí truyền thống tạo ra hệ thống vũ khí mới với nhiều tính năng vượt trội so với hệ thống vũ khí trước đây. Thực tiễn xung đột vũ trang Nga - Ukraine, xung đột tại Trung Đông cho thấy, nhiều hệ thống vũ khí thông thường được tích hợp công nghệ mới tạo ra vũ khí mới thông minh và chính xác. Tiêu biểu là: tên lửa, bom hàng không, pháo được thông minh hóa, nâng cấp trở lên uy lực hơn.

Ảnh trái: Cán bộ nghiên cứu của Viettel với các thiết bị 5G do Viettel phát triển. Ảnh phải: Cán bộ Tập đoàn Viettel kiểm tra sản phẩm công nghiệp quốc phòng công nghệ cao.

Thứ hai, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo giữ vai trò then chốt trong nâng cao năng lực tự chủ, tự cường trong nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao. Làm chủ thiết kế, công nghệ chế tạo sản xuất nhiều dòng vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, có ý nghĩa chiến lược là những nhiệm vụ trọng tâm của công nghiệp quốc phòng nước ta đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình hiện đại hóa Quân đội, mà còn là điều kiện, nền tảng để bảo đảm tính độc lập, tự chủ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn công nghệ lõi, công nghệ nền phục vụ chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao không được các đối tác nước ngoài chuyển giao. Để làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới đều đầu tư nguồn lực lớn cho nghiên cứu và phát triển công nghệ (R & D). Coi đây là trụ cột chiến lược nhằm tạo ra ưu thế công nghệ bảo đảm tính tự chủ và năng lực cạnh tranh lâu dài trong sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao.

Một số doanh nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới (năm 2023) cho thấy: Đặc điểm chung nổi bật của những doanh nghiệp này là mức đầu tư nguồn ngân sách rất lớn cho R&D phục vụ chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật. Ngoài đầu tư của doanh nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng còn nhận được nguồn đầu tư cho R&D từ ngân sách nhà nước thông qua các chương trình, dự án khoa học và công nghệ quốc gia. Theo báo cáo thường niên của Tập đoàn công nghiệp quốc phòng Raytheon Technologies[2], trong 3 năm (2021 - 2023), tổng ngân sách đầu tư cho R&D của Raytheon Technologies khoảng 22 tỷ USD, chiếm 10% doanh thu của doanh nghiệp; trong đó, 60% ngân sách R&D của doanh nghiệp được đầu tư từ ngân sách Liên bang. Tương tự, trong giai đoạn 2024 - 2030, Tập đoàn Rostec (Liên bang Nga) đầu tư cho R&D vào khoảng 7%-9% tổng doanh thu; trong đó phần lớn nguồn đầu tư cho R&D của Rostec là từ các chương trình R&D quốc gia[3].

Bảng 1. Một số doanh nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới, năm 2023

Nguồn: SIPRI (2024); Báo cáo năm của các doanh nghiệp

Từ thực tiễn trên có thể thấy đầu tư cho R&D của doanh nghiệp cũng như hỗ trợ của nhà nước đối với R&D của doanh nghiệp là then chốt trong nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong công nghiệp quốc phòng.

Sản phẩm "chó robot" của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội nghiên cứu, chế tạo.

Thứ ba, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh. Gần hai thế kỷ qua, C. Mác đã khẳng định công nghệ (đại kỹ nghệ), với bản chất không biên giới của nó là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Ngày nay, chúng ta có thể khẳng định, khoa học và công nghệ với bản chất không biên giới, là động lực quan trọng gắn kết công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân sinh/thương mại qua đó tạo sự tương tác hai chiều giữa phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh. Thực tiễn ở các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho thấy, hệ sinh thái công nghiệp quốc phòng có vai trò dẫn dắt phát triển một số lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao; ở Liên bang Nga, công nghiệp quốc phòng đóng vai trò dẫn dắt phát triển các ngành công nghiệp khác. Ở nước ta, trong danh mục công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 1131/2025/QĐ-TTg, hầu hết công nghệ chiến lược có bản chất lưỡng dụng. Ví dụ: trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, 5G/6G, công nghệ chip bán dẫn... đều có thể được ứng dụng cho cả mục đích quân sự và dân sự. Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quân sự, quốc phòng, về cơ bản, thúc đẩy gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tại Triển lãm thành tựu đất nước nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945/2-9-2025), Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) trình diễn 50 sản phẩm công nghệ dân sự và quân sự, trong đó nhiều sản phẩm thuộc các nhóm công nghệ chiến lược quốc gia như mạng viễn thông thế hệ mới, chip bán dẫn, robot, an ninh mạng. Ảnh: VĂN PHONG - HỮU THỌ

Quân ủy Trung ương đã xác định 07 nhóm nhiệm vụ đột phát phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội[4]. Trên tinh thần của Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW, tham luận tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu, phát triển và từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền, công nghệ chiến lược phục vụ hiện đại hóa Quân đội, bao gồm: (1) trí tuệ nhân tạo; (2) điện toán đám mây, điện toán lượng tử, phân tích dữ liệu lớn; (3) công nghệ mạng thế hệ sau, 5G/6G; (4) công nghệ robot, tự động hóa; (5) công nghệ chíp bán dẫn; (6) công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến; (7) an ninh mạng; (8) tích hợp cảm biến; (9) công nghệ siêu vượt âm, dẫn đường; và (10) công nghệ hàng không, vũ trụ. Đây là những lĩnh vực công nghệ then chốt, có hàm lượng tri thức cao, có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng lực phòng thủ quốc gia, giảm dần sự phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài, nâng cao tính tự chủ, tự cường về khoa học, công nghệ quốc phòng. Thực tiễn cho thấy, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cùng với tích hợp cảm biến, phân tích dữ liệu lớn sẽ tạo ra những chuyển biến mang tính đột phá trên hầu hết các lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong những năm tới đây.

Mạng 5G Viettel: Vùng phủ rộng nhất, công nghệ hiện đại nhất, chất lượng tốt nhất với tốc độ có thể đạt từ 700Mbps lên 1Gb, gấp 10 lần so với 4G và độ trễ thấp gần như bằng 0. Mạng 5G Viettel triển khai đồng thời trên cả 2 nền tảng kiến trúc 5G NSA (non stand alone) và 5G SA (stand alone).

Thứ hai, phát triển hệ thống hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng cường đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức R&D tiên tiến, hiện đại với cơ cấu tổ chức hợp lý, phân cấp nhiệm vụ, phối hợp rõ ràng, đảm bảo phân chia khoa học các nhiệm vụ R&D trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Phát triển, hoàn thiện hệ thống phòng thí nghiệm, thử nghiệm, trường thử nghiệm đạt trình độ quốc tế phục vụ nghiên cứu, phát triển và sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, có ý nghĩa chiến lược.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Cần hình thành, phát triển được các nhóm nghiên cứu mạnh bao phủ toàn bộ các lĩnh vực công nghệ chiến lược phục vụ quốc phòng đủ năng lực dẫn dắt, định hướng phát triển đối với một số lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược mang tính lưỡng dụng. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội phải được gắn kết chặt chẽ với nguồn nhân chế, chính sách lực chất lượng cao của khu vực dân sinh; đồng thời, xây dựng cơ nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và ngoài nước phục vụ quốc phòng.

Thứ tư, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, tự chủ, lưỡng dụng, gắn kết chặt chẽ hiệu quả với công nghiệp quốc gia; phấn đấu để công nghiệp quốc phòng Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và từng bước vươn lên tầm thế giới. Việc kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, giữa quốc phòng với kinh tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo ra các sản phẩm vừa phục vụ quốc phòng, vừa tham gia thị trường dân sự, qua đó huy động và khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội cho nhiệm vụ quốc phòng. Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, đặc biệt là nền tảng công nghệ số thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất quốc phòng theo mô hình hệ sinh thái, chuỗi giá trị; tức là theo mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả đầu tư cho công nghiệp quốc phòng.

Thứ năm, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm; trong đó, một trong những đột phá quan trọng là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc phòng, có sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, lực lượng vũ trang và cộng đồng khoa học. Cơ chế phối hợp linh hoạt, thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho các ý tưởng mới nhanh chóng được nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn. Đồng thời, cần coi trọng đổi mới sáng tạo từ cơ sở, khuyến khích sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thực tiễn cho thấy, nhiều sáng kiến xuất phát từ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao năng lực quốc phòng với chi phí thấp.

Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số và nền tảng số phục vụ chỉ huy, điều hành, quản lý quốc phòng. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Các công nghệ mô phỏng, thực tế ảo, phân tích dữ liệu lớn cho phép huấn luyện sát thực tế chiến đấu, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang và lực lượng dự bị động viên. Chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, động viên quốc phòng; đồng thời, tăng cường năng lực bảo vệ an ninh mạng, chủ quyền số quốc gia - thành tố ngày càng quan trọng của quốc phòng toàn dân trong kỷ nguyên số.

Thứ nhất, tăng đầu tư cho R&D quốc phòng, có chính sách huy động nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp. Nhiều quốc gia phát triển rất chú trọng đầu tư ngân sách nhà nước cho R&D quốc phòng, điển hình, như: Hoa Kỳ đầu tư trên 45% ngân sách R&D Liên bang cho R&D quốc phòng. Nga đầu tư đến 1/3 tổng ngân sách nhà nước cho R&D quốc phòng. Ở nước ta, Nhà nước cần từng bước gia tăng lên một tỷ trọng phù hợp đầu tư cho R&D quốc phòng trong tổng ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ. Điều quan trọng là cần thúc đẩy doanh nghiệp tăng đầu tư cho R&D quốc phòng, từng bước đưa đầu tư của doanh nghiệp cho R&D quốc phòng lên gấp 2-3 lần ngân sách nhà nước. Để thực hiện được mục tiêu này, cần sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ “đòn bẩy”, hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động R&D của doanh nghiệp theo các chương trình, dự án R&D quốc gia; đồng thời, khuyến khích và hỗ trợ một phần chi phí R&D của doanh nghiệp thông qua các cơ chế tài chính, thuế, tín dụng ưu đãi cho R&D quốc phòng.

Chính phủ hình thành Quỹ công nghiệp chiến lược từ ngân sách nhà nước để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua việc mua sắm sản phẩm có nguồn gốc từ kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp trong nước, trong đó ưu tiên cho sản phẩm công nghệ chiến lược. Xây dựng cơ chế đặc thù sử dụng Quỹ công nghiệp chiến lược để mua sắm sản phẩm công nghệ chiến lược (thiết bị hạ tầng số; phần mềm, giải pháp chuyển đổi số; phần mềm, giải pháp an toàn thông tin...) do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, thiết kế và sản xuất.

Khí tài Viettel trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trong Lễ kỷ niệm diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9.

Thứ hai, xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách đột phá phát triển nguồn nhân lực R&D trong quân sự, quốc phòng. Để thu hút được nhân tài, cần hình thành chương trình, nhiệm vụ lớn, thách thức về nghiên cứu phát triển công nghệ lõi, công nghệ nền; nghiên cứu, sản phẩm công nghệ cao, vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược đã được Chính phủ và Bộ quốc phòng xác định. Bên cạch đó, tiếp tục xây dựng, cải cách mạnh mẽ chính sách tiền lương, đãi ngộ và phúc lợi toàn diện, có chính sách động viên khen thưởng đủ mạnh cả về vật chất và tinh thần; xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, gắn bó để tiếp tục thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Thực tiễn cho thấy, ở các quốc gia công nghiệp phát triển, công nghiệp hàng không - vũ trụ và quốc phòng là ngành có thu nhập nằm trong 10 nhóm ngành có thu nhập cao nhất. Trong thời gian qua, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội đã xây dựng được đội ngũ R&D mạnh, một phần quan trọng là do chi trả cán bộ mức lương cao (thuộc Top 10% thị trường).

Thứ ba, có chính sách chấp nhận rủi ro, tạo đột phá trong phát triển công nghệ, sản phẩm chiến lược. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo quy định rõ về rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, cần khuyến khích, chấp nhận rủi ro (có kiểm soát) trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; tập trung đi thẳng vào ứng dụng, phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, các sản phẩm mang tính chiến lược, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, vừa trở thành động lực cho công nghiệp công nghệ cao quốc gia, khẳng định vị thế quốc gia trong một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, như: công nghệ vật liệu mới, công nghệ tên lửa, công nghệ hàng không - vũ trụ, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hạt nhân, lượng tử... Đây đều là những công nghệ then chốt, có vai trò quyết định trong việc sản xuất các vũ khí, trang bị có ý nghĩa chiến lược như tên lửa, vệ tinh, UAV, vũ khí tầm gần,...

Tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) tự chủ nghiên cứu, sản xuất.

Thứ tư, huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng theo mô hình hệ sinh thái và chuỗi giá trị hay chính là mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng, đã được chứng minh qua lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. Mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng phát huy được năng lực chuyên môn hóa của từng chủ thể trong hệ sinh thái; đồng thời, huy động hiệu quả nguồn lực dân sinh tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng. Nhà nước cần ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp dân sinh tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng, như chính sách ưu đãi thuế, đất đai, tín dụng tương tự doanh nghiệp công nghệ cao đối với bộ phận tham gia công nghiệp quốc phòng.

Thứ năm, đẩy nhanh việc thành lập Tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, lấy Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội làm hạt nhân. Để thành lập tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, việc xác định doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân là điều kiện tiên quyết. Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội phát triển như một hệ sinh thái mở để thực hiện: (1) Kết nối cơ sở công nghiệp quốc phòng với doanh nghiệp dân sinh, viện nghiên cứu, nhà trường và đối tác quốc tế; (2) Gắn kết hệ sinh thái công nghiệp quốc phòng với chuỗi giá trị toàn cầu. Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội đáp ứng đầy đủ và cao hơn các điều kiện trở thành hạt nhân tổ hợp công nghiệp quốc phòng theo các điều kiện xác định tại Nghị định số 99/2025/NĐ-CP ngày 06/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Việc thành lập tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao Viettel cũng là giải pháp để thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp quốc gia nói chung, công nghiệp quốc phòng nói riêng, xác định tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng. Ngoài ra, cần cơ cấu lại hệ thống cơ sở công nghiệp quốc phòng để thành lập một số tập đoàn công nghiệp quốc phòng theo nhóm, chuyên ngành sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật, hoạt động theo cơ chế mở như các tổ hợp công nghiệp quốc phòng; tiến tới công nghiệp quốc phòng nước ta sẽ được cấu thành từ 3 - 5 tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao.

Tổ hợp phương tiện bay không người lái do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) nghiên cứu sản xuất.

Thứ sáu, thúc đẩy hợp tác quốc tế, nhất là trong phát triển công nghiệp quốc phòng. Trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tự chủ, tự lực, tự cường, cần tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế song phương và đa phương với các đối tác chiến lược để cùng nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao một số công nghệ thành phần quan trọng, gắn với yêu cầu làm chủ thiết kế và sản xuất trong nước, qua đó đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, làm chủ công nghệ. Đồng thời, xây dựng chuẩn tích hợp cho các hệ thống C5ISR[5], vũ khí công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo, bảo đảm tính tương thích, khả năng chia sẻ và ứng dụng rộng rãi. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho hạt nhân tổ hợp công nghiệp quốc phòng trong hợp tác quốc tế, xuất khẩu sản phẩm công nghệ quốc phòng công nghệ cao, qua đó nâng cao vị thế, uy tín của công nghiệp quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là đột phá chiến lược trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Việc nghiên cứu, ứng dụng và khai thác hiệu quả các yếu tố này sẽ góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, đồng thời, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Tuy nhiên, hiện đại hóa quốc phòng không chỉ tạo ra những cơ hội lớn, mà còn đối mặt với nhiều thách thức, nhất là thách thức về trình độ công nghệ, nguồn lực đầu tư cũng như những lực cản xuất phát từ tư duy cũ và cách làm truyền thống. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa Quân đội với các ban, bộ, ngành và sự ủng hộ của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

[1] Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. [2] RTX, RTX 2023 Annual Report, https://investors.rtx.com/static-files/2870406d-da57-4e95-8048- 2c043e03dc8a. [3] Phạm Hoài Nam và cộng sự (2025), Xây dựng mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng công nghệ cao đáp ứng nhiệm vụ phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong tỉnh hình mới, Báo cáo khoa học tổng hợp Đề tài độc lập cấp quốc gia ĐTĐLXH.06/23-C, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Hà Nội. [4] Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW, ngày 29/01/2025 Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội. [5] Hệ thống tích hợp chỉ huy, kiểm soát, thông tin, máy tính, tác chiến mạng, tình báo, giám sát, trinh sát.

  • Ảnh: Báo Quân đội nhân dân, VIETTEL, VĂN PHONG, HỮU THỌ, HỮU CHUNG
  • Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC