Cuộc xung đột tái định hình thị trường dầu mỏ? - Bài 1: Vì sao Mỹ - Israel tấn công Iran vào thời điểm này?
Cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran trong những ngày qua đã khiến giá dầu thô biến động với biên độ lớn, tác động sâu sắc tới kinh tế thế giới. Cuộc xung đột có thể sớm kết thúc, nhưng những hệ lụy sẽ còn kéo dài, thậm chí có thể còn định hình lại thị trường dầu mỏ toàn cầu theo một hình thái mới. Chuyên đề này nhằm phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề “đằng sau” cuộc xung đột Mỹ - Israel và Iran, qua đó dự báo về bức tranh mới của thị trường dầu mỏ.
Cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran đang vượt xa khỏi khuôn khổ một cuộc chiến đơn lẻ giữa ba quốc gia. Dù mới diễn ra chưa đầy 3 tuần, nhưng cuộc xung đột đã gây rung chuyển toàn cầu, khiến thị trường năng lượng đối mặt với nguy cơ khủng hoảng.
Ngày 20-3-2003, Mỹ dẫn đầu liên minh quân sự tấn công Iraq. Có hai lý do cơ bản được đưa ra, gồm: Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt và ủng hộ chủ nghĩa khủng bố. Dưới sức mạnh quân sự khủng khiếp của liên quân, chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein nhanh chóng sụp đổ. Tuy nhiên, sau đó, không ai tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq và Mỹ, cũng không đưa ra được bằng chứng nào cho thấy ông Saddam Hussein có liên hệ với al-Qaeda.
Ngày 28-2-2026, tên lửa của Mỹ và Israel bắn thẳng vào Tehran, khơi mào cuộc xung đột khiến cả thế giới bất an. Lý do chính, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng Iran “rất gần” với việc sở hữu vũ khí hạt nhân. Thủ tướng Israel Netanyahu thì khẳng định, Iran chỉ còn “vài tuần nữa” là đạt ngưỡng hạt nhân. Trong khi đó, chỉ trước khi cuộc xung đột nổ ra tròn 10 ngày, Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) Rafael Grossi cho biết, cơ quan này chưa phát hiện bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Iran hiện đang nghiên cứu phát triển vũ khí hạt nhân. Các phân tích độc lập từ hình ảnh vệ tinh cho thấy, Iran đã gia cố nhiều cơ sở hạt nhân bằng bê tông và đất nhằm tăng khả năng chống chịu trước các đòn tấn công. Dù vậy, các thanh sát viên quốc tế chưa kết luận Tehran đã nối lại chương trình phát triển vũ khí hạt nhân.
Cho đến nay, Nhà Trắng vẫn chưa công bố đầy đủ căn cứ pháp lý của chiến dịch tấn công Iran trước công chúng!
Đánh giá về cuộc tấn công Iran của Mỹ và Israel cũng cần đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn với những hành động mạnh tay gần đây của Washington, đặc biệt là vụ tấn công Venezuela.
Sau nhiều tháng gia tăng sức ép quân sự và kinh tế, rạng sáng 3-1-2026 (giờ địa phương), quân đội Mỹ đã không kích nhiều mục tiêu trên khắp Venezuela. Ít giờ sau, Tổng thống Donald Trump tuyên bố lực lượng Mỹ đã bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro cùng phu nhân Cilia Flores và đưa họ sang New York.
Ông Donald Trump tuyên bố Mỹ đã “kiểm soát” dầu thô Venezuela. Việc “kiểm soát” dòng dầu của Venezuela khiến Mỹ đạt hai mục tiêu chiến lược!
Thứ nhất là khả năng tự chủ nguồn dầu mỏ. Venezuela là một “siêu cường dầu mỏ” với sở hữu trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới. Theo các báo cáo từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Venezuela hiện nắm giữ khoảng 303 tỷ thùng dầu thô đã được chứng minh, chiếm 17% tổng trữ lượng toàn cầu. Con số này vượt trội so các quốc gia khác, thậm chí xấp xỉ trữ lượng của Mỹ và Saudi Arabia cộng lại. Tuy nhiên, hầu hết dầu của Venezuela là loại dầu siêu nặng, khó khai thác và xuất khẩu.
Trong khi đó, Mỹ là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới, nhưng hằng năm, Mỹ vẫn cần nhập khẩu dầu thô từ các nước khác. Dữ liệu từ EIA cho thấy, 65% dầu mà nước này tiêu thụ được sản xuất trong nước, 35% còn lại đến từ các quốc gia khác. Nguyên nhân, nền kinh tế Mỹ tiêu thụ các sản phẩm dầu (khoảng hơn 19 triệu thùng/ngày) lớn hơn lượng dầu mà nước này sản xuất (khoảng hơn 13 triệu thùng/ngày).
Bên cạnh đó, còn có một lý do quan trọng khác. Phần lớn dầu hiện được khai thác tại Mỹ là dầu nhẹ. Trong khi, nhiều nhà máy lọc dầu ở Bờ Vịnh và Trung Tây Hoa Kỳ vốn được thiết kế để xử lý dầu nặng từ Canada, Venezuela và Mexico. Vì thế, việc kiểm soát dòng dầu từ Venezuela sẽ có khả năng giải quyết được vấn đề tự chủ đầu vào của ngành sản xuất dầu tại Mỹ.
Mục tiêu chiến lược thứ hai có thể là nằm ở những cạnh tranh địa chính trị lớn hơn.
80% lượng dầu thô xuất khẩu của Venezuela được bán cho Trung Quốc với mức chiết khấu cao. 4% nhu cầu dầu thô của nền kinh tế tiêu thụ dầu đứng thứ hai thế giới được nhập từ Venezuela. Không tính các lợi ích về chính trị, kinh tế khác, riêng về dầu mỏ, Venezuela đã đem lại cho Trung Quốc một nguồn lợi đáng kể.
Khi Mỹ kiểm soát dòng dầu của Venezuela, Trung Quốc không còn được hưởng lợi từ quốc gia này.
Việc Mỹ kiểm soát dòng dầu của Venezuela cũng tác động đến Cuba, vốn phụ thuộc vào nguồn dầu của Venezuela trong suốt 25 năm qua. Tháng 1-2026, Mỹ tấn công Venezuela. Tháng 2-2026, không có một giọt dầu nào được nhập khẩu vào Cuba. Hệ lụy, Cuba rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng và đang có những động thái đàm phán với Mỹ.
Sự kiện Mỹ - Israel tấn công Iran cũng có thể là một mắt xích của logic đã được lập trình. Iran cung cấp khoảng 11% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc. Xung đột nổ ra, Trung Quốc gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn cung này. Chưa kể, việc Iran cơ bản đóng cửa eo biển Hormuz và những tác động của cuộc chiến tới hoạt động khai thác dầu thô của các nước khu vực Trung Đông- nơi chiếm 54% nguồn cung dầu thô cho Trung Quốc- chắc chắn tác động sâu sắc tới tình hình an ninh năng lượng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Iran không phải là đối thủ “dễ nhằn” như Venezuela. Quốc gia vùng Vịnh này sở hữu một kho tên lửa hùng hậu và một nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến. Mặt khác, Iran có một hệ tư tưởng vững chắc được củng cố qua hàng ngàn năm lịch sử. Vì thế, cuộc xung đột do Mỹ và Israel phát động khó có thể giành thắng lợi tuyệt đối về quân sự hay thay đổi chế độ chính trị của Iran.
Cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran sẽ kéo dài đến bao giờ? Đó là câu hỏi đang được cả thế giới quan tâm trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu bị tác động tiêu cực.
Các nhà phân tích tình hình thế giới đã đưa ra 3 kịch bản để kết thúc cuộc xung đột. Kịch bản thứ nhất là tuyên bố chiến thắng hạn chế, trong đó Mỹ và Israel khẳng định đã đạt được các mục tiêu quân sự chủ yếu của chiến dịch, sau đó chuyển sang chiến lược răn đe và trừng phạt dài hạn đối với Iran. Kịch bản thứ hai là tiếp tục gia tăng sức ép quân sự nhằm buộc Tehran nhượng bộ sâu hơn trong các vấn đề liên quan tới chương trình hạt nhân và ảnh hưởng khu vực. Kịch bản thứ ba là duy trì sức ép quân sự và kinh tế trong thời gian dài với kỳ vọng làm suy yếu cấu trúc quyền lực tại Iran.
Trong 3 kịch bản này, kịch bản 1 có vẻ khả thi nhất. Kịch bản thứ 2 tiềm ẩn nguy cơ làm bùng phát một cuộc xung đột rộng lớn hơn tại Trung Đông. Còn với kịch bản cuối cùng, khả năng chính quyền Tehran sụp đổ trong ngắn hạn là rất thấp.
Sau màn khởi đầu “hoành tráng”, số lượng tên lửa và UAV bay lên hằng ngày của cả hai phía đang giảm mạnh. Tuy nhiên, cuộc xung đột không dễ “hạ màn” khi mục tiêu chiến lược của phe gây chiến chưa viên mãn.

- Nội dung: HUY ĐĂNG
- Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC









