Máu đỏ tim son khắc vào hồn Tổ quốc - Bài 2: Cuộc chiến trong lao tù
Từ Tổng nha Cảnh sát đến nhà tù Thủ Đức... địch tra tấn Châu đủ kiểu hòng moi thông tin, từ đóng đinh vào đầu ngón tay, lột trần người cho vào bể nước rồi dí điện. Những trận đòn tàn bạo khiến Châu không còn ra hình người. Ăn đòn thù nhiều hơn ăn cơm, nhưng Châu quyết giữ lòng trung trinh. Trong buổi học tập khí tiết của các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh (tại phiên tòa), Châu đã nhận mình là vợ chưa cưới của Tư…
Về phần Lê Hồng Tư, sau khi bị tuyên án tử, tuần nào Tư cũng bị ép ký đơn xin ân xá đã đánh máy sẵn, chỉ việc ký. Ngày 21-7-1962, địch vào phòng giam lôi cả nhóm tử tù lên xe. Mọi người nghĩ lần này ra pháp trường, cầm chắc cái chết, nên động viên giữ vững khí tiết đến giây cuối cùng. Nào ngờ, địch đưa cả nhóm ra Côn Đảo.
Một bận, trong lúc đi lấy thuốc, Châu gặp anh Hà Minh Trí (người giết hụt Ngô Đình Diệm ở hội chợ Ban Mê Thuật năm 1957, sau địch đầy anh ra Côn Đảo), anh Trí nói nhỏ: “Tôi vừa từ Côn Đảo về. Anh Tư gửi lời hỏi thăm chị”. Về đến phòng giam, Châu ôm các má bật khóc. Xa xôi cách trở là vậy mà vẫn có đồng chí như cánh chim én báo tin.
Châu lại nhớ bữa ở trong trại giam Tổng nha cảnh sát, rờ tay lên tường, Châu xúc động khi thấy dòng chữ “Vịnh - Tư - Thành - Chính”. Châu liền lấy kẹp tóc, khắc vào tường chữ “TC” (Tư Châu - PV). Từ lúc nghe anh Trí báo tin, Châu nghe lòng mình ấm lại nhưng làm sao để báo tin cho Tư biết là mình đã nhận lời yêu anh, đã báo cáo với tổ chức rằng mình là vị hôn thê của anh và sẽ đợi anh cả đời này. Châu liền lấy vải đen khâu thành quần đùi, kín đáo thêu phía trong hai chữ “TC” lồng vào nhau. Cuối năm 1962, nhân có người của ta ở Tổng nha cảnh sát bị địch đày ra Côn Đảo, các má đã nhờ cầm tín vật của Châu ra đảo gửi cho Tư.
Ở Côn Đảo, ban ngày bị địch tra tấn; ban đêm, Tư cùng đồng đội nằm co quắp trong hầm đá lao 2 xây kín mít như lò nướng bánh mỳ. Hầm có một ô cửa khung sắt nhỏ, một thùng đựng phân. Tư nằm trên nền xi măng lạnh ngắt, lấy lá bàng (vốn để dùng cho việc đi vệ sinh) lót phía dưới cho đỡ lạnh. Tiếng sóng biển, tiếng gió rít, tiếng chuông nhà thờ vang lên. Mỗi lần chuông vang, Tư lại muốn hét lên thật to “Châu ơi…”, như lần hai đứa chia tay ở Thủ Đức. Bữa đó Châu nhoài người ra cửa xe ô tô, đáp lời: “Anh Tư!” thật ngọt từ con tim thổn thức. Khuya nay, trong tiếng gió, trong cơn mê sảng sau khi bị địch đánh đập, Tư chập chờn nghe thấy tiếng Châu gọi. Một hôm, bạn tù đi ngang qua báo tin “chị Châu gửi lời hỏi thăm anh”, khiến Tư bán tin bán nghi. Ngoài Côn Đảo, vẫn có địch trà trộn vào các phòng giam để theo dõi hoạt động của ta. Phải đến khi nhận được quần đùi có thêu hai chữ “TC” thì Tư mới tin. Cả hầm giam chuyền tay nhau ngắm, ai cũng hóng nghe Tư kể “thiên tình sử”. Phải có vật gửi lại chứ. Nghĩ là làm. Tìm được mảnh bạc mỏng trong thùng rác, bằng sự khéo léo, Tư giũa thành hình trái tim. Một mặt Tư khắc hình búa liềm, mặt kia khắc hai chữ “TC”, như gửi gắm tình yêu trọn đời cho Đảng và cho Châu.
Nhưng án tử hình còn đó, đồng đội đang ngã xuống, làm sao Tư có thể nghĩ hoài về chuyện tình cảm. Đây là Côn Đảo-trường học cách mạng, là cái nôi tôi luyện người Cộng sản. Nghĩ đến đây, Tư ráng đứng thẳng, hướng về miền Bắc thầm gọi tên Bác.
Tháng 11-1963, hai anh em Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm bị bắn chết trong cuộc đảo chính. Kể từ đây, chính trường Sài Gòn rơi vào vòng khủng hoảng, đảo chính liên miên. Các cơ sở cách mạng của ta tranh thủ tình hình tìm cách móc nối với tụi địch có thiện cảm với cách mạng để đưa người của ta ra tù. Tên giám thị mở cửa phòng giam, quát to: “Nguyễn Thị Châu, ra đây”. Ngỡ bị lôi đi tra tấn, Châu co rúm trong lòng các má. “Sao, được thả lại không muốn về à”. Châu được thả với lý do: Khi bị bắt trong người không có tang chứng.
Châu thu dọn đồ, run run nâng niu kỷ vật là mảnh bạc hình trái tim Tư khắc trong tù đày. Người của ta từ Côn Đảo mang vật làm tin này về cho Châu nhưng chưa kịp đưa tận tay đã mất vì bị bọn tổng nha cảnh sát tra tấn đến chết. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đồng chí lần ra kỷ vật, nói với anh em trong phòng giam: “Các đồng chí hãy chuyển vật này tới tay chị Nguyễn Thị Châu, hôn thê của anh Lê Hồng Tư từ Côn Đảo trao gửi”.
Đợt Tết Nguyên đán 1966, địch đưa toàn bộ số tù án chính trị chống án chào cờ vào Chuồng Cọp I. Địch bắt tù nhân phải nằm, ai không nằm là đánh, dùng sào nhọn chọc rồi rải vôi bột vào người. Đêm đến, tên giám thị Lê Văn Khương chỉ huy bọn tay chân đàn áp dã man tù chống chào cờ bằng phân, nước tiểu, dùi cui. Vào trung tuần tháng 4-1967, tên Khương cùng tay chân đánh đập tù nhân chống chào cờ suốt một buổi. Sau trận đòn đẫm máu này, vẫn còn đó 8 tù nhân trụ vững ở vị trí chống chào cờ. Hai hôm sau còn 6 tù nhân vẫn quyết trụ đến cùng. Trước sự chỉ đạo của quan thầy, tên chúa đảo Nguyễn Văn Vệ phải chấp nhận để 6 người của ta được tự do tư tưởng, không bị cưỡng bức chào cờ.
Vào một đêm, Tư cùng anh Hai (tên thật Lê Văn Việt, thường gọi Nguyễn Văn Hai, là trung đội trưởng biệt động nổi tiếng từng tham gia đánh nhiều trận trong nội đô Sài Gòn khiến địch hãi hùng), anh Phạm Văn Dẫu (biệt động Sài Gòn, người đã chuyển lời hứa hôn của Châu đến Tư) quyết định vượt ngục, cướp súng lính canh trong trường hợp giáp mặt… nhưng không thành.
…Hơn một tháng sau ngày vượt ngục, Tư ngồi bất động cạnh anh Hai trong xà lim lao 2. Đêm qua, sau gần một tháng tra tấn, địch quẳng anh Hai về xà lim lao 2. Tư không còn nhận ra người đồng đội đã cùng mình vượt ngục, máu đen từ miệng ọc ra, tim anh Hai đập chậm dần. Tư vội lấy khăn lau, nhưng anh Hai ra hiệu cho Tư cúi sát đầu xuống miệng, thì thào: “Còn sống tôi sẽ vượt ngục được. Rào mái không hề chi, tôi sẽ lại cắt. Xuồng cột ở cầu tàu, có khóa nhưng dễ mở, nhất là với người như anh. Anh ở lại, ráng tổ chức cho anh em vượt biển vào mùa gió chướng năm sau… Nếu tôi chết, về báo cáo với tổ chức, với Đảng, tôi ở trong tù luôn giữ trọn khí tiết của người Đảng viên. Đời tôi chỉ mong được gặp Bác Hồ một lần, chỉ ước một lần được gặp…”. Trái tim anh Hai ngừng đập vào đêm 30-11-1966.
Cuộc vượt ngục của tử tù lao cấm cố khiến cánh thằng Vệ, thằng Khương mất mặt với thượng cấp. Bọn chúng tra tấn Tư cả ngày lẫn đêm, lột trần rồi ném vào hầm đá, để tử tù từ từ chết bởi cái lạnh đóng băng tim. Nhưng Tư vượt qua được cái lạnh giá nơi “địa ngục trần gian” bằng ý chí người Cộng sản. Một sáng, Tư thấy những chồi xanh của cây bàng ngoài khám báo hiệu xuân sắp về. Tư hờn tị với bầy chim sẻ đang nhảy hót, chao liệng trên bầu trời; ước mình cùng đồng đội được về với đồng bào, về với đơn vị để tiếp tục chiến đấu.

- Nội dung: THÁI PHƯƠNG - BẢO NGÂN
- Ảnh: NGUYỄN Á - TRẦN ĐINH - HỒNG QUANG
- Kỹ thuật, đồ họa: HÀ THANH






